Những Đóng Góp Trong Cuộc Hội Ngộ Dân Chúa Vừa Qua
Qua Tham Luận Của Các Dân Chúa Khắp Nơi

 

Đức tin Tông-truyền của Hội-thánh đang bị phân-hoá trong Giáo-hội VN

GS Phạm Minh Tâm
(Melbourne, Úc châu)

Theo một thống-kê của Toà-thánh năm 2004 thì tổng số người Công- giáo trên khắp thế giới đã vượt qua mức một tỉ người. Nói đúng con số là 1,098,000.000 tín-hữu. Tỷ-lệ gia tăng này đi song-song với tỷ-lệ gia tăng dân số trên thế-giới, song tại Á Châu thì tỷ-lệ Giáo Hội Công-giáo chỉ đạt mức khoảng 3% dân số và riêng tại Việt-Nam, tỷ-lệ người Công-giáo cũng chỉ vào khoảng 6% so với tổng-số khối dân trên 80 triệu. Nếu đem tỷ-lệ này so với việc phát-triển bề ngoài như xây-dựng các cơ-sở vật-chất của các dòng tu và xứ đạo trong mấy thập-niên gần đây thì mức-độ tăng-tiến về con số người tiếp nhận Tin Mừng Cứu-độ như trên quả là hơi khiêm-tốn. Điều này thật khó vội-vàng quy kết nguyên-nhân là ở đâu, song nếu thẳng-thắn một chút, tâm thành một chút thì những ai ý-thức mình là người có trách-nhiệm chủ-đạo sứ-vụ rao giảng phải đấm ngực nhận ra ngay phần lỗi chính là đã không sống trọn ơn gọi làm tông-đồ của mình. Bởi vì, hãy thử nghĩ xem, đạo Chúa không phải dở, không lạc-hậu hay bất cập nhân tình; không xa rời các thực-tại nhân-sinh mà là một siêu-phẩm thật trọn-hảo của nhân-ái, của công-bằng, đáp ứng đủ những gì mà con người khát-khao tìm kiếm. Nhưng tại sao Đạo lại không đuợc nhiều người tiếp nhận? Vậy, hiển nhiên là những người đi "tiếp thị" đã hoặc là tắc-trách trong bổn-phận hoặc đi sai đuờng nên không có sức thuyết phục nhiều.

Theo ơn gọi làm môn đệ của Đức Ki-tô và qua sự hướng-dẫn của Hội-thánh thì sống Đức Tin Ki-tô giáo đúng mực là "Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu giáo-dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đầy, tù ngục…, thì ở đó bác-ái Ki-tô giáo phải tìm gặp, ân-cần săn-sóc, ủi-an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng…." Và, cũng ở đó Giáo-hội phải có mặt. Song thực-tế thì sao? Với một Quê-hương nghèo và khối anh em đói, khổ nhiều mặt thì Giáo-hội đã hiện-diện ra sao?

Giáo-hội là Mẹ, Giáo-hội là Thầy nhưng con cái của Giáo-hội thiếu sự bảo-bọc, thiếu vắng những việc làm thiết-thực và trực tiếp đáp ứng các nhu-cầu của họ giữa khi người ta chỉ nhìn thấy Giáo-hội càng ngày càng hướng ngoại theo cách thế phô diễn những hình-thái phát-triển bên ngoài kiểu như đã có nhận định là "Tôn-giáo lễ hội"

Kể từ sau năm 1975 trở đi, Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam gần như càng ngày càng bị rơi vào tình-trạng bị khủng-hoảng về lãnh-đạo và khủng-hoảng về đuờng lối, về cung cách thực-hiện mục-vụ nếu không muốn nói là đã phản bội niềm tin Tông-truyền của Hội-thánh; đã quay ngược lại với lý-tưởng mình để chiều chuộng, để vâng phục theo những yêu sách của nhà cầm quyền cộng-sản mà chắc chắn là bất lợi cho Giáo-hội.

Đây chính là vấn-đề lớn của Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam, một vấn-đề khá phức-tạp mà trong cộng-đồng Dân Chúa, ít ai dám đề cập tới. Không dám, phần vì tình-trạng phong-kiến tâm-linh vẫn còn nên cái tâm-lý của phần lớn giáo dân vẫn cứ chỉ vâng phục theo một lối mòn xưa nay chờ sự dẫn giắt của các giáo-sĩ mà cũng phần vì giáo dân không biết rõ nhiệm-vụ của mình phải làm, không nắm vững thế đứng của mình trong Giáo-hội và đã đuợc mời gọi như thế nào theo hướng đi của Công-đồng Vatican II mà cụ-thể nhất là Sắc-lệnh Tông-đồ Giáo Dân.

Nói đến cái tên "Công-đồng Vatican II" lại cũng là một vấn-đề nữa, bởi vì thực-tế ngay trong giới giáo-sĩ cũng chưa dễ gì đã có nhiều người chịu đọc để học hỏi, để biết mình phải làm gì cho mình và cho anh em mình. Giáo-hội hoàn-vũ thì luôn phải nghĩ đến việc canh-tân những nguyên-tắc đạo-đức phù-hợp với đức bác-ái và công-bằng trong khi Giáo-hội Việt-Nam cứ đủng-đỉnh với một số lập-luận vừa rỗng vừa sáo để ru ngủ đại đa số tín hữu theo kiểu "chìm xuồng" và "huề vốn". Chẳng hạn, ngay vào năm 2000, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô đệ nhị đã minh-định "Công-đồng Vatican II đã cho chúng ta nhiều tặng thưởng quý giá từ 35 năm qua và còn tiếp tục dẫn đưa chúng ta trong nhiều năm nữa. Công việc của Giáo Hội bây giờ là học hỏi những điều đã đề ra trong những văn kiện của Công Đồng và đem ra thực hành có hiệu quả..." nhưng trong Niên giám của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam ấn-hành năm 2004 đã giải-thích về tình-trạng này như sau: "Giáo hội Việt Nam, trong thời gian trước đây, từ năm 1965 đến 1975, do hoàn cảnh chiến tranh của đất nước, chưa có dịp học hỏi kỹ lưỡng các văn kiện của Công đồng, trừ một vài giáo phận ở miền Nam Việt Nam. Chỉ trong các thành phố và đô thị lớn, giáo dân mới có dịp học hỏi về Công đồng này ít nhiều, còn lại hầu như chẳng mấy khi nghe nói đến, nhất là ở miền Bắc Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, dân tộc ta lại gặp nhiều khó khăn, vì thế các bài học đổi mới, hợp nhất của Công đồng hầu như ít được nhắc đến như những định hướng cơ bản cho Giáo hội Việt Nam…" Trước 1975 thì tại vì chiến-tranh, còn sau 1975 thì lại gặp nhiều khó-khăn, thế thì chẳng biết đến đời nào Hội-đồng Giám-mục mới thi-hành đuợc nhiệm-vụ giáo-huấn của mình trong khi từ Bắc chí Nam cứ rầm-rộ xây cất và mở-mang về mặt cơ-sở vật-chất và những sinh-hoạt nặng tính phô-trương, ham-hố kiểu thế-tục để chẳng hiểu là vô-tình hay cố ý chỉ có tác-dụng "tô lục chuốt hồng" cho chế-độ cộng-sản. Chẳng hạn, có linh-mục đã lắc đầu chia sẻ về một dòng nữ ở ngay Thủ-đức đã xây cất cơ-sở thật nguy-nga, tráng-lệ còn hơn chốn cung-đình thời phong-kiến và xem ra rất hãnh-diện trong khi người có chút lòng thành với Quê-huơng và Giáo-hội lại chỉ thấy chóng mặt và choáng váng với cái bề ngoài này.

Tại sao một khi đã biết nhận rằng các bài học đổi mới, hợp nhất của Công đồng hầu như ít được nhắc đến như những định hướng cơ bản cho Giáo hội Việt Nam… mà vẫn không bắt tay làm ngay trong hoàn-cảnh trước mặt, thay vì hết năm này tháng nọ cứ lo vun quén cho nguyên tắc "đối thoại" và "hợp tác" với nhà nước cộng-sản. Như vậy, phải chăng các vị dư biết thực-tế "đối thoại" hay "hợp tác" chỉ là những tấm màn mỏng nhằm che đậy sự hèn yếu bạc nhược của mình mà thôi nhưng vẫn lẽo-đẽo chạy theo hai chữ này như một điệp-khúc nhàm chán để tránh né chu-toàn bổn phận chính yếu là sống đúng Đức Tin Tông-truyền như Hội-thánh đòi hỏi là "Ki-tô hữu cần phải khiêm tốn đặt mình trước Nhan Chúa, xét mình về trách-nhiệm mà họ cũng phải gánh chịu đối với những sự dữ của thời-điểm chúng ta" để chỉ lo đi mưu cầu thoả hiệp với một chính quyền bất công, gian trá.

Cuối cùng thì việc gì đến tất nhiên phải đến. Đó là đã có những giáo dân hiểu đuợc điều cấp-thiết là phải trưởng-thành, phải nhận-thức đuợc tình-trạng suy-thoái này của những người lãnh-đạo Giáo-hội mà mạnh dạn và thẳng-thắn lên tiếng; phải nhận-định và phân-tích thực-trạng cách rốt-ráo như là một bổn-phận hàng đầu vừa là để góp ý với "các đấng bậc", lại cũng vừa muốn cùng anh em đồng đạo chia sẻ những ưu-tư và trách-nhiệm của mình… và cũng dễ hiểu là tại sao những tiếng nói này cứ phải xoay quanh Hội-đồng Giám-mục. Bởi vì theo cơ-cấu tổ-chức của Giáo-hội, không nhìn vào các giám-mục thì nhìn vào ai đây và không phê-phán sao đuợc khi các vị nắm vai trò chủ chốt trong việc vạch hướng đi chung cho Dân Chúa phù-hợp với Tin Mừng và huấn-giáo của Hội-thánh nhưng các vị đã làm ngơ và làm thinh trước mọi vấn-đề nhân-sinh, xã-hội; đã quay lưng lại với người nghèo, người bị áp bức, bị bóc lột….

Và rồi, một khi Hội-đồng Giám-mục như vậy thì các linh-mục, tu-sĩ sẽ ra sao khi họ là những thừa tác viên của giám-mục để chia sẻ và thừa-hành các nhiệm-vụ thánh-hoá, quản-trị và giáo-huấn. Chính trong kỳ Đại Hội Dân Chúa vừa qua cũng đã nhìn nhận rằng tình-trạng trì-trệ trong Giáo-hội Việt-Nam hiện nay xuất phát từ hàng ngũ giám-mục và linh-mục, cho nên muốn canh-tân thì cũng phải bắt đầu từ đấy, từ ngay những người đang lãnh-đạo và hành-xử năng-quyền theo kiểu quan chức, thư-lại sống theo thói đời hơn là những mục-tử nhân-lành theo đòi hỏi của Đức Ki-tô.

Có một điều phải thẳng thắn nhìn nhận là trong tập-thể "đấng bậc" hiện nay có rất nhiều thành phần hơi bị thấp về mọi mặt, nghĩa là cả chuyên môn lẫn kiến-thức chung. Còn về trình độ "nội tâm, tư duy, tu đức" thì lại càng bi quan hơn....mà như gần đây, trong cộng-đồng Dân Chúa đã có nhiều dư-luận chuyền cho nhau về từng cá-nhân giám-mục này, giám-mục kia vấp phạm nhiều lẽ do bởi lối sống và hành vi phản Tin Mừng, phản sứ-vụ Tông-truyền.

Cứ nhìn vào kỳ Đại Hội Dân Chúa kỳ vừa qua sẽ thấy. Toàn tập tài liệu làm việc không nói lên đuợc gì. Đa số chép lại bài bản mà hình như không nắm hết ý, chỗ nào nghĩ ra đuợc thì lại không trọn nghĩa của điều muốn nói...nghĩa là nói chung đầu óc các vị chỉ lo hướng ngoại để né, để chống, để đỡ và để tìm chỗ an bình nên nó cứ luẩn quẩn, loanh quanh. Chưa kể có một số lại vừa lười suy luận, có thể vì thiếu chiều sâu, thiếu nền tảng lại vừa ham danh háo điạ vị với đầu óc đặc cứng quan niệm sai lầm thuở xưa là làm giám-mục thì chẳng cần làm gì mà vẫn là làm tất cả; là không ai có quyền phê phán vì đã nhận cây gậy chăn giắt rồi thì chỉ chỏ sao cũng đuợc.

Thử hỏi, trong xã-hội Việt-Nam giữa hoàn cảnh hiện nay, người dân phải gánh chịu đủ thứ bất-công và bất-hạnh mà những chữ công lý, hoà bình có đuợc Hội Đồng Giám Mục đặt nặng không mặc dù cũng có lập ra một Ủy-ban Công-lý và Hoà-bình? Người dân đã dư lẽ với kinh-nghiệm rằng công-lý ở Việt-Nam là tất cả những gì đi ngược lại công ích, không  thuận theo luật công-bằng xã-hội và là công-an… cho nên nếu chỉ lập ra một Ủy-ban suông thì chẳng khác gì đi dùng dầu cù-là bôi lên cục bướu độc mà thôi... Có công-lý hay không cứ hỏi Đức Tổng Ngô Quang Kiệt, Đức cha Hoàng Đức Oanh, hỏi giáo dân Thái-hà, Đồng Chiêm; hỏi dân Cồn Dầu và linh-hồn anh Nguyễn Thành Năm …chẳng hạn rồi tìm cho ra lý lẽ câu Chúa nói "Hãy đi lo cho những con chiên của ta" còn thiết thực hơn. Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam luôn nhân-danh hai chữ Giáo-hội và huynh-đệ để tô chuốt những câu văn mục-vụ nhưng mà Giáo-hội nào, huynh-đệ ra sao khi gạt anh em Dòng Chúa Cứu Thế ra khỏi Đại-hội Dân Chúa như đá trái banh phạt đền vậy?

Gần đây là vụ việc Cù Huy Hà Vũ, chỉ có một mình giám-mục chủ-tịch của Ủy Ban Công Lý và Hoà Bình phản-ứng yếu ớt và gián-tiếp bằng việc ký tên vào một thư chung xin bãi bỏ bản án. Rồi mới cách đây hai tháng, vào ngày 27-5-2011, cũng chính Ủy-ban này của Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam tổ-chức buổi toạ-đàm để vừa chính-thức ra mắt Ủy-ban, vừa thảo luận về trình-trạng công-lý và hoà-bình tại Việt-Nam thì số các giám-mục tham dự không đủ đếm trên đầu ngón tay vì chỉ có hai giám-mục Đặng Đức Ngân và Tri Bửu Thiên đến dự buổi sáng, còn Tổng-giám-mục chủ-tịch Hội Đồng Giám Mục thì đến đọc diễn văn, ăn trưa xong là rút lui ngay mà không dự thảo-luận trong các t࿕, trong khi đúng ra đây mới chính là cơ-hội ngài cần phải tận dụng để lắng nghe mà thấu hiểu nguyện-vọng dân tình thì lại bỏ phí rồi chiều mới trở lại nghe đúc-kết; Tổng-giám-mục Sài-gòn chỉ đến vào buổi chiều để phát-biểu trước khi bế-mạc, còn giám-mục Phụ-tá Sài-gòn, cũng không có mặt. Chính giám-mục này đã đi vào "lịch-sử cứu-độ" khi khẳng-định tất cả những gì xẩy đến cho Giáo-hội Việt-Nam trong những năm gần đây, qua những thảm-nạn của Dân Chúa tại nơi này, nơi khác chỉ là những vụ việc điạ phương nên không nằm trong vòng trách-nhiệm của Hội-dồng Giám-mục. Thử hỏi như thế thì khí thế và trách-nhiệm của các vị ở đâu.

Còn lại thì, ai cũng thấy các vị bị lệ-thuộc vào cái nhà nước thế gian này nhiều quá vì bản thân caá vị nhận của thế gian này nhiều quá cho nên quý vị cứ bị trói dần vào một điều lệ bất thành văn là quy-chế XIN – CHO. Xin ra sao và cho thế nào thì đã quá rõ với rất nhiều những cái quý vị xin mà không đuợc cho như không được thoải-mái ấn-hành các sách Đạo, không đuợc lo về lãnh-vực y-tế và giáo-dục nhưng lại phải nhận những cái họ cho khi không cần thiết để xin như giảng dạy chủ-nghĩa Mác-Lê trong Đại chủng-viện…. Cho nên tuy sứ mạng của Hội-thánh không phải là làm chính trị, nhưng Đức Tin Tông Truyền lại vạch ra sứ-vụ cho Hội-thánh là phải lên tiếng can thiệp với bất kỳ một thể-chế chính-trị nào không tôn-trọng những quyền căn-bản của con người, phải quan tâm đến bất cứ những gì liên quan đến con người.

Chúng tôi quan-niệm khi nói lên sự thật, dù là sự thật đau lòng, vẫn còn hơn là che dấu nó trong sự phỉnh gạt qua cái vẻ bề ngoài hào-nhoáng, cho dù chúng tôi có thể bị chụp mũ là gây chia rẽ, là làm giảm uy-tín các đấng bậc hay như một vài vị đã đổ vạ nặng-nề là bức tử Giáo-hội quê nhà. Tuy nhiên, chúng tôi vững tin vào sự suy-luận sáng suốt của cộng-đoàn tín-hữu, của anh em cùng niềm tin với chúng tôi để cùng chúng tôi nhận-định xem nếu các vị giám-mục Việt-Nam có uy-tín thực sự thì ai có khả-năng làm giảm nổi, nếu các vị đồng lòng nhất-tề theo hướng đi Tông-truyền, theo đúng tinh-thần đuợc sai đi thì ai chia rẽ nổi, thì ai dám xuyên-tạc hay vu-khống…. Chân-lý chỉ có một là sự thật đến từ nơi Thiên Chúa và bảo-vệ sự thật là trách-nhiệm chung của bất kỳ ai với ý ngay lành, nên từ lời đoan-quyết của thánh Gia-cô-bê, chúng tôi xác-tín rằng ai biết làm điều lành mà không làm là có tội.

Một vài ý kiến tham luận vào "Nhận định tình hình đất nước hiện nay"

BS Phạm Hữu Trác
(Montreal, Canada)

1- NHỮNG ÁP LỰC DO BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ

Dân số Việt Nam tháng 11-2010 là 89.033.000, thành phần gồm có:

- lực lượng lao động 48%

- dưới 15 tuổi 44%

- trên 65 tuổi 14%

Chỉ số lão hóa hiện nay ở Việt nam 36% (so với Singapour 85%, Thái lan 52%)

Tăng Trưởng Dân S

Dự báo của US Census Bureau và Thống Kê VN thì dân số sẽ tăng lên :

- năm 2030 ước lượng là 104.148.000 (bình tuyển giữa 103.117.000 và 107.808.000).

- năm 2050 ước lượng là 111.829.000 (bình tuyển giữa 108.707.000 và 119.852.000).

Theo dự báo này, trong hai hay bốn thập niên nữa, tiên liệu sẽ có nhiều biến đổi:

- Sinh xuất giảm, lớp tuổi học sinh sẽ giảm, tuổi lao động tăng, tuổi già tăng, biểu đồ dân số sẽ không có hình

tháp nhọn, mà giống hình cái chum (lu nước).

- Lớp tuổi tiểu học hiện nay là 6,9 triệu sẽ giảm xuống 6,5 triệu vào năm 2020 và 6,3 vào năm 2030.

- Lớp tuổi trung học hiện nay là 9,1 triệu sẽ giảm mạnh hơn.

- Lớp tuổi đại học giảm 24% vào năm 2030, nhưng tỷ lệ đi học đại học tăng thêm.

Hiện nay đầu tư giáo dục ở Việt Nam là 2,1%, so với tỷ lệ thế giới 5,4%.

- Lực lượng lao động tăng cả về tuyệt đối lẫn tương đối, có thể lên đến 65% dân số

- Lớp tuổi già tăng thêm, tốc độ lão hóa nhanh hơn tốc độ dân số. Theo quy định của Liên Hiêp Quốc một dân số có tuổi vàng cao hơn 10% là một dân số già.

Hệ quả của những biến động dân số này sẽ gây ra áp lực lớn trên nhiều vấn đề quan trọng: lương thực cho người nghèo, giải quyết việc làm cho giới lao động, bảo đảm an sinh xã hội, y tế cho mọi lớp tuổi, thuốc men, mức sống cho người già và đầu tư nâng cao phẩm chất giáo dục v.v...

- MỨC SỐNG NGƯỜI DÂN VÀ TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐÓI

Theo thống kê của Việt Nam (có sự cộng tác của UNDP Liên Hiệp Quốc), năm 2008 trung bình một tháng mỗi người:

THU NHẬP được 995.200 đồng (thành thị: 1.605.200, nông thôn: 762.200)

Tiền lương, tiền công 345.500

Nông nghiệp 202.300

Lâm nghiệp 6.900

Thủy sản 29.900

Công nghiệp 50.400

Xây dựng 5.300

Thương nghiệp 94.900

Dịch vụ 74.900

Khác 57.700

CHI TIÊU mất 792.500 đồng (thành thị 1.245.300, nông thôn 619.500), chia ra như sau:

Ăn, uống, hút 373.400

Tiêu dùng khác 331.500

Ngoại khoản 87.600

CHI TIÊU Y Tế và chăm sóc sức khỏe hàng tháng (2008) của một nhân khẩu:

Cả nước Thành thị Nông thôn 45.100  63.900  38.000

Khám chữa bệnh  32.900   44.800   28.400

Mua thuốc  9.600   14.900   7.500

Dụng cụ  600   1.100   400

Bảo hiểm   2.100   3.100   1.700

TÌNH TRẠNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM

Việt Nam đã ký vào Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc (tháng 9-2000) theo đó mục tiêu đầu tiên trong 8 mục tiêu nhằm kết thúc vào năm 2015 là xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói.

Thống kê Việt Nam năm 2008 cho biết tỷ lệ hộ nghèo là 13,4 % (cả nước: 8,7; thành thị 6,7; nông thôn16,1), tỷ lệ nghèo chung là 14,5% (thành thị 3,3, nông thôn 18,7)

Chuẩn nghèo thế giới quy định thu nhập bình quân một người mỗi năm là 730 USD trong khi đó thu nhập trung bình hàng năm của người Việt Nam vẫn dưới tiêu chuẩn đó, dù có điều chỉnh về giá trị so sánh tương đương vẫn chưa qua được tiêu chuẩn nghèo. Trước kia Việt Nam đã định chuẩn nghèo, bình quân mổi tháng 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị. Tháng 9 -2005, Bộ Lao động Thương Binh và Xã Hội áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 đã tăng lên 270.000 đồng/người/tháng và 350.000 đồng/người/tháng tương ứng với nông thôn và thành thị.

**

Hy vọng những dữ liệu bên trên có thể góp phần vào việc thảo luận về "nhận định tình hình đất nước hiện nay".

Phạm Hữu Trác (04-6-2011)

HIỆN TÌNH DÂN CHÚA TẠI VIỆT NAM

GS Lê Tinh Thông
(Westminster, Nam California, HK)

Vừa rồi, thuyết trình viên Lê Thiên có nêu ra lập trường kiên định của ĐHY Trần Nhật Quân, người Trung Hoa, trong những phát biểu của ngài chống lại các quan điểm ủng hộ đối thoại vô điều kiện giữa GHCG và Nhà nước CS Trung Quốc. ĐHY đã không ngần ngại chỉ đích danh chức sắc Tòa Thánh là "Đức Hồng Y Casaroli và những người theo ông nghĩ rằng họ đã làm được những phép lạ, bằng cách theo đuổi một chính sách thỏa hiệp với bất cứ giá nào. Nhưng, trong thực tế, họ đã làm hòa, vâng có, với các chính quyền độc tài toàn trị, nhưng với cái giá của một tình trạng suy yếu đau thương cho Giáo Hội của chúng ta."

Như thuyết trình viên Lê Thiên cho biết, đến ngày 01/5/2011, các Đấng thẩm quyền CGVN vẫn còn mạnh mẽ hô hào "đối thoại, không đối đầu."

Khi một số giới chức của Tòa Thánh Vaticano cổ võ "đối thoại bằng mọi giá"giữa GH và CSTQ thì tại Trung Quốc, GHCG bị Nhà Nước CSTQ đẩy lùi bằng cách ra lệnh cho Nhóm GH Tự Trị dồn dập tấn phong một số giám mục trong hàng ngũ của họ để chiếm chỗ của các GM trung thành với Hội Thánh CG Hoàn Vũ - "giám mục hầm trú" hoặc bổ nhiệm các Giám mục Giáo Hội Ly Khai cai quản những Gp mà GHCG chưa có điều kiện bổ nhiệm giám mục. Câu chuyện về những "biến tướng" chung quanh giải pháp "đối thoại bằng mọi giá," hay "đối thoại không đối đầu được truyền thông CG liên tục nêu lên qua những bài báo đọc được sau đây:

Cơn giận của ĐHY Trần Nhật Quân đối với Cha Heyndrickx và chính sách "đối thoại bằng mọi giá" của Bộ Truyền Giáo (Propaganda Fide) (Asia News 02/4/2011)

Bài báo này cho thấy ĐHY Trần Nhật Quân nhấn mạnh: "Đối thoại và thoả hiệp là cần thiết, nhưng phải có điều cốt yếu. Chúng ta không thể từ bỏ các nguyên tắc của đức tin chúng ta, và kỷ luật cơ bản của Giáo Hội chúng ta, chỉ để làm vui lòng Chính Quyền Bắc Kinh." Và kết quả là nhóm GH Quốc Doanh Trung Quốc đã "long trọng tuyên bố ý hướng có một Giáo Hội độc lập và tiến hành tấn phong giám mục mà không có phép của Giáo Hoàng."

Con đường đối thoại chông gai: Bài học bi đát của Giáo Hội tại Hoa Lục (Đặng Tự Do, ViêtCatholic News 12/4/2011

Trong bài báo khá dài này, chúng tôi đọc thấy một tựa đề phụ: "Cái bẫy đối thoại khổng lồ của CS Bắc Kinh". Tựa đề này cũng đủ là một lời cảnh tỉnh Hàng Giáo Phẩm tại VN.

CG Trung Quốc: Chủ trương thỏa hiệp bằng mọi giá với nhà nước "là một sai lầm nghiêm trọng". Đó là lời phát biểu của ĐHY Trần Nhật Quân mà Nữ Vưong Công Lý lấy làm tựa đề cho bài viết ngày 18/4/2011.

Đức Hồng Y Ivan Diaz và Nỗi buồn Trung Hoa (Nữ Vương Công Lý 13/5/2011).

Theo bài báo này, khi họp báo tại Hoa Kỳ (12/4//2011) ĐHY Trần Nhật Quân đã công kích đích danh ĐHY Ivan Dias (Bộ Trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo vừa nghỉ hưu) cùng các công sự viên là "thủ phạm đã gây ra những đau thương cho GH tại Hoa Lục do chính sách ‘đối thoại bằng mọi giá’" của Bộ này dưới thời ĐHY Dias.

Bài báo mới nhất gần đây là của Asia News(17/5/2011) với tựa đề : Trăm hoa đua nở từ chính sách "đôi thoại bằng mọi giá" với CS. Chính sách này đưa tới việc Hiệp Hội CG Yêu nước tại Trung Quốc liên tục tự ý tấn phong giám mục và nay lại dọa sẽ tấn phong thêm 10 giám mục nữa.

Tất cả những sự kiện trên là những bài học đích đáng cho hiện tình GHCGVN trước chính sách "đối thoại không đối đầu" hay "đối thoại vô điều kiện" mà một số các Đấng đang cổ súy.

Năm 2006, tờ điện báo VietCatholic News có đăng lại bản dịch tiếng Việt bài phỏng vấn của hãng thông tấn Công Giáo Zenith với linh mục tiến sĩ sử gia Peter Raina người BaLan ngày 30/7/2006. Bài phỏng vấn có nhan đề tiếng Việt là "Sự thật về hồ sơ các linh mục cộng tác với sở An Ninh Mật Vụ CS Ba Lan."

Khi được hỏi v chiến thuật CS Ba Lan sử dụng để đưa giáo sĩ Ba Lan vào cái thế chấp nhận sự đổi chác đối với một ân huệ được ban cho, linh mục Peter Raina nêu ra một trong nhiều sự kiện đã xảy ra cho hàng giáo sĩ Ba Lan thời Cộng Sản như sau:

"Một trong những vũ khí thông thường nhất mà Sở An Ninh Mật Vụ áp dụng là cấp giấy xuất cảnh ra ngoại quốc cho những ai hợp tác. Mỗi công dân xin giấy xuất cảnh đều được sở An Ninh Mật Vụ gặp riêng. Những trường hợp này, lại cũng có điều kiện ‘Có Qua Có Lại’. Người được cấp giấp xuất cảnh phải hứa sẽ cung cấp tin tức về những người Sở An Ninh Mật Vụ muốn biết."

Ngoài ra, mật vụ Cộng Sản còn dùng nhiều chiêu độc để gài bẫy, đặc biệt là bẫy tiền, bẫy tình và bẫy danh vọng. Ở Ba Lan, theo linh mục Raina, "Cách thường dùng nhất là sở An Ninh Mật Vụ thu thập tin tức về thói quen của mỗi linh mục, xem vị nào thích rượu, thích đàn bà, vị nào chán nản công việc của mình."

Cha Raina nêu rõ: "Thông thường, điệp viên phụ nữ được dùng để chiêu dụ các linh mục, tạo ra các tình huống làm hại các vị ấy. Ví dụ bí mật chụp hình hay tuyên bố là mình có thai. Thế rồi Sở An Ninh Mật Vụ bắt đầu hăm dọa, đề nghị linh mục ấy hợp tác với sở An Ninh Mật Vụ."

Một bài viết của nhà báo Tomka Ferenc, người Hungary, nhan đề Phương tiện đàn áp tôn giáo: CÁC VỤ ÁN ĐƯỢC DÀN DỰNG được đăng tải ngày 11/4/2011 trên báo điện tử Dân Luận. Theo tác giả Tomka Ferenc, "Đảng Cộng sản [Hungary] có nhiều mục tiêu, trong đó, có mục tiêu hủy diệt Giáo Hội Công Giáo" mục tiêu hủy diệt CG được thực hiện qua "nhiều bước, như: đình chỉ các tổ chức, các trường sở Công Giáo, các dòng tu, cũng như, khống chế ban lãnh đạo Giáo Hội." Để đạt các mục tiêu đó, CS Hungary tìm cách gán ghép các thanh niên CG và các vị lãnh đạo tinh thần là "những tên sát nhân, vô đạo đức, dối trá, có âm mưu lật đổ chính quyền nhà nước, v.v..."

Cũng theo tác giả bài báo, một "cơ sở" để tòa án CS dựa vào mà buộc tội bị cáo là dùng chính "lời khai nhận tội" của bị cáo! Để nhận được "lời thú tội," cán bộ CS sử dụng biện pháp "nhục hình hay bất cứ biện pháp vũ lực nào khác để buộc bị can phải khai ra" những gì mà tòa án CS muốn nghe t࿫ đương sự.

Lời tự thú chẳng những là yếu tố chứng cứ buộc tội bị cáo mà còn được sử dụng như lợi khí tuyên truyền "trước thế giới" về tội lỗi không thể chối cãi của đương sự. Nhục hình mà người CS thi hành đối với bị cáo là những sự hành hạ khủng khiếp về cả thể xác lẫn tinh thần khiến các bị cáo không còn làm chủ được mình nữa, chỉ biết nói theo sự mớm cung của cán bộ CS hay "ký nhận" những lời khai đã được soạn sẵn! Bên cạnh đó CS không quên dựng lên những chứng gian, gài người "tự khai" mình có tham gia tổ chức và hoạt động phản động, vân vân…

Cộng sản ở đâu cũng là Cộng sản. Cộng sản Ba Lan, Hungary … hành xử thế nào, Cộng sản VN cũng thế. Điều này được chứng minh hầu như hằng ngày trên quê hương chúng ta.

Ân huệ xin-cho: Trò chiêu dụ và cạm bẫy

Trên website của Nhà Nước VN thấy có đăng bản dự thảo Nghị Định "Quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, tôn giáo, nhằm thay thế Nghị Định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01-03-2005 (đang có hiệu lực thi hành). Đây là một thí dụ điển hình của thứ luật lệ rừng rú tại VN. Pháp lệnh này gồm 6 chương với 41 điều quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những điều khoản đầu về "nguyên tắc cơ bản về luật pháp" xem ra minh bạch lắm: tự do tôn giáo là những quyền tự do thiêng liêng tối thượng của người dân, một quyền bất khả xâm phạm. Nhưng đi sâu vào các điều khoản ấn định việc thi hành, người ta mới hay pháp lệnh trói buộc quyền tự do tôn giáo một cách trắng trợn.

Bất cứ hoạt động nào thuộc phạm vi tôn giáo cũng đều bị buộc phải "đăng ký" và phải "được sự đồng ý" của cấp này, cấp nọ… "Chương trình hoạt động tôn giáo hàng năm – đăng ký" (Điều 12); "tổ chức hội nghị, đại hội của tôn giáo cơ sở - phải được sự chấp thuận" (đ 18); "dòng tu, tu viện… được hoạt động sau khi đã đăng ký" (18); "hội đoàn tôn giáo được hoạt động sau khi… đăng ký" (19); "người được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử - phải đăng ký"; "cách chức, bãi nhiệm chức sắc trong tôn giáo… phải thông báo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền" (22).

Nhận xét về bản DỰ THẢO SỬA ĐỔI NGHỊ ĐỊNH 2005 về tôn giáo của CSVN, Nữ Luật Gia Tạ Phong Tần, cựu thiếu tá công an Việt Cọng, đã kết luận bài viết "Kẻ thứ ba vô duyên trên giường ngủ" như sau: "Nhìn chung, từ Điều 3 đến Điều 31, từ Điều 35 đến Điều 41 (35 Điều, chiếm 78% nội dung dự thảo) đều theo nguyên tắc: Xin tất tần tật, từ chuyện "nhỏ như con thỏ" đến chuyện "lớn như con voi", chỉ còn thiếu đi ị phải xin phép nữa mà thôi.

"Tóm lại, "mỗi bước đi" tín đồ, chức sắc tôn giáo đều phải "xin" (đăng ký) và dài cổ chờ "cho" mới được thực hiện là xâm phạm, can thiệp thô bạo vào nội bộ đời sống tôn giáo, tín ngưỡng. Có thể thấy, dự thảo nghị định giống như một kẻ thứ ba chen vô ngồi giương mắt giữa giường ngủ của vợ chồng người ta (tôn giáo), mà vợ chồng nhà kia muốn sờ hay muốn "ấy ấy" nhất nhất đều phải xin phép kẻ thứ ba vô duyên đó. Kiểu "luật" chà đạp quyền con người này chỉ tồn tại ở những quốc gia độc tài, độc đoán, độc ác, độc đảng nhằm để tăng cường quyền trói buộc nhân dân của một nhúm người thuộc giai cấp cầm quyền, chớ không phải vì lợi ích toàn dân."

Những thứ luật rừng như trên phải bị cực lực phản đối đến cùng, chứ không có chuyện góp ý!

Trách Nhiệm của Kitô hữu đã chịu Phép Rửa:

Chúng ta những Kitô hữu quan tâm ở hải ngoại hành xử trách nhiệm do Phép Rửa Tội như thế nào? Xin nhắc lại lời Đức TGM Daniel Pelarczyk, TGP Cincinnatti, Ohio, Hoa Kỳ, mà anh Lê Thiên đã trích dẫn trong bài thuyết trình của anh, "…Nhưng tất cả chúng ta đều có cơ hội thực hành Công Lý và tìm cách làm cho Công Lý được áp dụng từ mức độ thấp nhất tới cao nhất. Cơ hội ấy đưa ta đến với trách nhiệm."

Ngoài ra, GM Thomas Tobin, GP Rhode Island, NY, trong một bài phỏng vấn của Nguyệt San Catholic World Report (tháng 4, 2011) khi được hỏi về người CG có được phép phê bình cấp lãnh đạo của mình không. Ngài nói "Người Công Giáo có quyền thách thức thành phần lãnh đạo của mình, gồm có linh mục chánh xứ và giám mục, nhưng nên được thực hiện với sự thông cảm và trong tinh thần bác ái".

Trong hoàn cảnh giáo dân CG trong Nước "vô cùng thất vọng" với cấp lãnh đạo trong Giáo Hội, và đứng trước tình hình Giáo Hội bị bách hại hầu như mỗi ngày, chúng ta là các Kitô hữu sống ở hải ngoại có bổn phận phải làm gì? Tình hình tôn giáo bị đàn áp càng ngày càng khốc liệt và tinh vi mà Hội Đồng GMVN cứ dửng dưng xin đối thoại thì nguy quá! Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khi còn là Hồng Y, trong tác phẩm "Muối Cho Đời" đã nói rõ ràng: "Giáo Hội không bao giờ được phép chạy theo thời. Giáo Hội phải nói lên cái xấu và cái nguy của thời đại; phải nhắc nhở lương tâm những kẻ có quyền, cả những người trí thức, và cả những kẻ thờ ơ hẹp hòi trước những nỗi thống khổ của thời đại. Là giám mục, tôi thấy có nhiệm vụ phải làm chuyện đó. Lại nữa tình trạng suy đồi quá hiển nhiên: Đức Tin quá mệt mỏi, ơn gọi tu trì sút giảm, luân lý đạo đức xuống cấp ngay cả trong giới giáo sỹ, tình trạng bạo lực càng ngày càng tăng, v.v. Lời Chúa trong Kinh Thánh và những lời của các giáo phụ như vang lên trong đầu tôi, kết án nặng nề những mục tử nào làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thề để cho nọc độc lan tràn. Im lặng không phải là bổn phận hàng đầu của người công dân và riêng tôi, tôi kinh sợ cảnh một giám mục chỉ biết an phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền phức và lấp liếm xung đột"

Vì thế, nhân cơ hội chúng ta từ khắp nơi trên thế giới về tham dự cuộc Hội Ngộ Dân Chúa 2011 kỳ này nên cùng nhau thực hiện một Thỉnh Nguyện Thư hoặc Kiến Nghị để mọi người CGVN trong nước và ở hải ngoại có cơ hội cùng ký tên kính gởi Hội Đồng Giám Mục VN, van xin các ngài chu toàn trách nhiệm căn bản của mình, như Anh Lê Thiên đã nhắc đến lời than phiền của LM Nguyễn Trọng Viễn trong tác phẩm của ngài với tựa đề "Những Căn Bệnh Trầm Kha trong Đời Sống Đức Tin CG tại VN" (2008) "Trong tổ chức Giáo Hội, người giáo dân không được mời gọi để sống đức tin trưởng thành".

1) Xin các GM và linh mục quản xứ tổ chức thường xuyên các buổi tỉnh tâm cho hàng giáo sỹ, tu sỹ và giáo dân và những lớp học hỏi về Học Thuyết Xã Hội, Thánh Kinh, Linh Thao, Tỉnh Tâm, v.v… tại các tu viện và giáo xứ. Đây là cơ hội cho giáo sỹ và giáo dân thăng tiến đời sống tâm linh cũng như nâng cao trình độ hiểu biết về Chúa và các giáo huấn quan trọng của Giáo Hội Công Giáo. Qua những buổi gặp gở thường xuyên như thế, tình bạn triển nở và họ trở nên khắng khít với nhau hơn. Nhờ đó, họ cảm thấy an toàn và can đảm hơn khi tranh đấu cho tự do, công lý, dân chủ, và sẵn sàng bênh vực những đồng hương cô thế, không phân biệt tôn giáo, không có tiếng nói, bị áp bức tàn bạo, dã man.

2) Xin các ngài đồng thanh can đảm phản đối chính quyền tước đoạt quyền tự do tôn giáo, "can đảm chống lại sự ác dưới mọi hình thức" như các ngài đã kêu gọi tín hữu CGVN trong Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa ban hành ngày 28-4-2011.

3) Tham gia với các tôn giáo và tổ chức khác trong xã hội chống đối mọi bất công trong xã hội, mọi bản án phi lý bất công, vi hiến, tích cực bênh đỡ kẻ nghèo hèn, đòi hỏi các viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân phẩm con người, hăng hái cổ võ công lý trong mọi sinh hoạt chính trị, giáo dục, văn hóa và xã hội, đặc biệt phản đối Trung Cọng lộng quyền dành dân lấn đất, thô bạo hành hung ngư phủ VN, v.v..

Ngoài ra, Kiến Nghị này cũng sẽ được gởi cho Tòa Thánh, các Hội Đồng Tòa Thánh liên hệ, Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh, Đức Khâm Sứ không thường trực tại VN, các Hội Đồng Giám Mục tại các quốc gia có người Việt cư ngụ, v.v…

Ước mong cuộc Hội Ngộ Dân Chúa Hải Ngoại 2011 này tạo cơ hội cho các Kitô hữu người Việt trong và ngoài Nước thực thi bổn phận và trách nhiệm thiêng liêng, cao quý của mình thành thật góp ý với thành phần lãnh đạo tôn giáo. Đây là bổn phận tối thiểu của người Kitô hữu trưởng thành của Thế Kỷ 21.

Lê Tinh Thông (04-6-2011)

Phải có kế hoạch đường dài Hãy bỏ tâm lí "đối phó"…

Dịch giả Phạm Hồng Lam
(Augsburg, Đức quốc)

Năm 1997, tôi có mặt tại Hoa-kì. Một cụ già, suốt một đời gắn liền với chính đảng đấu tranh, đã nhắn tôi về thăm cụ vài ngày. Mỗi tối, sau khi ăn xong, hai bác cháu chúng tôi đi dạo. Cụ say sưa kể cho tôi nghe kinh nghiệm tranh đấu của mình. Một hôm, tôi hỏi cụ: Bác thấy đó, tất cả các chính đảng kì cựu của mình đều gặp khủng hoảng nhân sự lãnh đạo, không có người thế; bao nhiêu chục năm, chẳng ai quan tâm tới việc huấn luyện; nhìn đâu cũng chỉ thấy vài ba vị tướng già và đám binh sĩ, còn tầng lớp sĩ quan trung cao cấp chẳng thấy. Tại sao? Ông trả lời: Đúng, nhân sự là vấn đề sống còn của một tổ chức...huấn luyện là chuyện phải làm... nhưng cũng nên hiểu cho rằng, với các thế hệ như chúng tôi, cả cuộc đời chỉ biết lao vào hành động, đến tuổi này chỉ mong sao có được những kết quả cụ thể trước mắt, chứ những chuyện đường dài thì chẳng dám và chẳng muốn màng tới.

Đó là chuyện đời. Giờ tôi kể một chuyện đạo.

Người Việt công giáo ở Đức có một Liên Đoàn Công Giáo, trong đó có một Hội đồng đại biểu, như là một thứ Quốc hội. Nhắm vào thành phần nhân sự sẵn có của Hội đồng này và trước cảnh thiếu vắng lãnh đạo tại các cộng đoàn địa phương, năm 2001 chúng tôi đưa ra một dự án huấn luyện nhân sự lâu dài cho lãnh đạo giáo dân và gởi tới các vị tuyên úy cộng đoàn. Chúng tôi chỉ yêu cầu các tuyên úy cung cấp học viên, còn nội dung huấn luyện thì sẽ cùng nhau quyết định. Phần tài chánh tổ chức tổng quát chúng tôi đã có kế hoạch. Còn việc tổ chức, chúng tôi lãnh nhận trong 1, 2 năm đầu, sau đó sẽ do quyết định chung của khoá học. Lúc đó cũng là thời điểm thống nhất tiền tệ tại Liên Hiệp Âu Châu (EU), nên chúng tôi cũng muốn quảng bá dự án ra cho cả Âu châu. Vì thế, trên dưới 60 bản dự án đã được gởi đi. Chúng tôi nhận được ba phúc đáp. Một thư cám ơn của một nữ tu coi sóc một cộng đoàn nhỏ tại Pháp, một thiệp cám ơn của một sư huynh trách nhiệm một cộng đoàn cũng tại Pháp, và thiệp trả lời của một tuyên uý tại Thuỵ-sĩ. Tại sao các tuyên úy không trả lời? Theo chúng tôi nghĩ, cũng chỉ vì đây là một chuyện xa vời, chẳng liên can gì với thực tế công việc và nhiệm vụ của các tuyên úy, nên đã chẳng ai quan tâm.

Tâm lí của người chiến sĩ đấu tranh lão thành trên kia cũng là tâm lí của người mang thông hành tị nạn. Người tị nạn sống trong trạng thái „đối phó", cũng gọi là „ăn xổi". Cuộc đời mất trước thiếu sau, lỡ làng lận đận bắt họ phải luôn nghĩ tới hiện tại. Họ ở trong trạng thái luôn có thể phải bắt đầu cuộc đời lại từ đầu. Tâm lí này không thuận lợi cho những kế hoạch đường dài.

Mà tâm lí của kẻ tị nạn, theo tôi, cũng là tâm lí của dân tộc Việt Nam nói chung, một dân tộc đã luôn phải đối phó với nạn ngoại xâm và chiến tranh nội thuộc dai dẳng, nên chưa bao giờ có được thời gian ổn định, để suy nghĩ về mình và đặt vấn đề cho tương lai mình.

Đối với tập thể người Việt tị nạn chúng ta, tâm lí đối phó lại càng cụ thể và gay gắt, vì hàng ngày đang phải trực diện với một chế độ bạo trị trước mắt. Phải giải cái ách này đã, mới có thể an cư, mới có thể tính chuyện lâu dài!

Tâm lí "ăn xổi" đã đi vào trong máu người Việt. Người Việt cả trong lẫn ngoài nước.

Thế thì cũng không lạ gì tâm lí „thực dụng" của đa phần giáo sĩ và lãnh đạo Giáo hội hiện nay tại Việt Nam. Thực dụng là biểu hiện của tâm lí "ăn xổi". Chúng ta chỉ thích "nổi trôi theo vận nước", bồng bềnh theo thuyền đời, mà chẳng cần quan tâm gì tới chuyện thuyền có tay lái hay không.

… để nghĩ tới chuyện lâu dài

Nhu cầu trước mắt là phải xoá cái nạn cộng sản trước đã. Đúng. Nhưng hơn 30 năm rồi, chúng ta vẫn chưa xoá được nó, và đến giờ vẫn cứ loay hoay chưa biết phải làm gì! Mà giả như ta đã giải quyết được nạn cộng sản, thì giờ đây có thể chúng ta lại đang phải đứng trước những nạn khác. Là vì vấn đề lâu dài của đất nước và dân tộc chúng ta là cuộc sống Văn minh, Dân chủ, mà muốn tới được mục tiêu này, phải có Lãnh đạo xứng hợp. Cộng sản cũng chỉ là một chặng đường phải vượt qua, nhưng những hệ lụy của nó mới là gánh nặng khủng khiếp và kéo dài mà chúng ta và thế hệ con cháu chúng ta phải có kế hoạch giải quyết.

Chuyện Giáo hội cũng thế. Các chủ đề trong sách báo bàn về Giáo hội trong mấy chục năm qua hầu như không đổi. Luôn vẫn là những ca than về lối sống thực dụng của giáo sĩ và hàng lãnh đạo, trình độ thấp kém của giáo dân. Nội dung luận bàn thường đặt nặng nơi tầng lớp giáo sĩ, vì người ta xưa nay vẩn tin vào phương trình này:

Giáo sĩ thánh thiện

Giáo dân đạo đức

Giáo sĩ đạo đức

Giáo dân tầm thường

Giáo sĩ tầm thường

Giáo dân bỏ đạo!

Tôi cho rằng, đấy là một lầm lẫn quan trọng. Công thức trên phải ngược lại mới đúng. Làm sao có được giáo sĩ tốt, nếu không có giáo dân xứng đáng? Làm sao có được lãnh đạo tốt, nếu không có tín hữu (giáo dân và giáo sĩ) tốt? Bộ mặt tương lai của tất cả các Giáo hội địa phương sẽ được định hình chủ yếu bởi phẩm chất của tín hữu giáo dân, chứ không nhất thiết bởi giáo sĩ. Vì thế, chuyện đào tạo, huấn luyện, gây í thức nơi người giáo dân là công tác quan trọng. Đó là một công tác khá khó khăn, vì đụng tới tâm lí thụ động vôn có nơi người công giáo và lại càng thâm căn cố đế nơi giáo dân Việt nam. Nên cần phải có những kế hoạch đa diện, đường dài.

Trong muôn công tác liên quan tới việc tào tạo, huấn luyện tín hữu giáo dân, tôi đề nghị một điều cụ thể:

Cộng đồng công giáo hải ngoại, mà cụ thể là nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân, nên có kế hoạch kết hợp làm việc với Uỷ ban công lí hoà bình hay Uỷ ban giáo dân thuộc HĐGMVN. Yểm trợ Uỷ ban lập nên một chương trình huấn luyện về lâu về dài cho tín hữu – đặc biệt giáo dân – tại Việt Nam. Huấn luyện ba mặt: Tu đức (chiến sĩ đức tin), Học thuyết xã hội công giáo (hành trang vào đời) và khả năng lãnh đạo (tác nhân biến cải). Tài trợ huấn luyện chuyên môn và tài trợ công tác lâu dài (giúp Giáo hội trả lương) cho một đội thuyết trình viên đều đặn đi tới mở lớp tại các trung tâm huấn luyện của các giáo phận.

Khả năng của cộng đồng giáo dân hải ngoại chủ yếu vẫn là hổ trợ tài chánh. Nên cần phải có một kế hoạch huy động tài chánh lâu dài, phải có một nền tài chánh bền và đều. Mà muốn có bền và đều, không gì ngoài việc lập Quỹ Hội (Foundation) có tư cách pháp nhân. Đây là con đường tuy dài hơi, nhưng chắc chắn và sẽ mang lại những hệ quả quan trọng về mọi mặt. Những chi tiết kĩ thuật và pháp lí quốc gia liên quan việc lập Quỹ tuy không đơn giản, nhưng không phải là chuyện không thể không giải quyết được. Vấn đề là ta có muốn quyết tâm và bắt tay vào một kế hoạch lâu dài và có ích cho Giáo hội quê nhà hay không mà thôi.

Vài Trò của người CGVN ở hải ngoại

Kỹ sư Đỗ Như Điện
(San Diego, nam California, HK)

Thưa quí cha, thưa quí anh chị,

Tôi thành thật xin lỗi vì có công việc cấp bách, nên đã không thể có mặt trong buổi khai mạc, cũng như tham dự phần thuyết trình sáng nay, nên không được nghe hai đề tài quan trọng của anh Mặc Giao và anh Lê Thiên, đó là một thiếu sót đáng tiếc.

Tôi hân hạnh chia sẻ đôi điều mà từ hai tháng trước anh Trần Phong Vụ yêu cầu tôi suy nghĩ, góp ý về vai trò của người giáo dân VN tại hải ngoại đối với Giáo Hội và Quê Hương Việt Nam. Tôi trăn trở suy nghĩ, đồng thời theo dõi những diễn biến ở trong nước để cố tìm xem mình có thể đóng góp được gì, cho dù là những đóng góp rất nhỏ bé. Càng suy nghĩ, tôi càng cảm thấy hoang mang, bởi vì 36 năm qua ở hải ngoại, tôi cũng như hầu hết quí vị, quí bạn hiện diện nơi đây, hầu hết chúng ta đã gắn bó với những hoạt động nhắm xây dựng Giáo Hội ngay từ khi còn ở trong nước; nhiều quí vị ngồi đây đã dấn thân trên nửa thế kỷ, nay vẫn hăng say không biết mỏi mệt. Động lực nào đã khiến chúng ta kiên trì lội ngược dòng nước để làm những việc mà thiên hạ cho rằng "đội đá vá trời" này?

Theo thiển nghĩ của tôi, chúng ta làm những việc ấy vì chúng ta yêu mến Giáo Hôi và quê Mẹ Việt Nam, và vì chúng ta còn tha thiết và lo âu cho tương lai của dân tộc. Nói cụ thể chúng ta không có trách nhiệm trực tiếp phải giải quyết các vấn đề của Giáo Hội VN. Chúng ta hoàn toàn tự nguyện đóng góp phần mình chỉ vì lợi ích lớn lao và lâu dài của cả một dân tộc đang phải đối mặt với những nguy cơ to lớn đang đè nặng trên quê hương.

Chẳng cần nói quí vị cũng biết, để khống chế các tôn giáo, đặc biệt Công Giáo, Cộng Sản Việt Nam đã học được những kinh nghiệm từ Trung Cộng, Liên Sô, Đông Âu đem áp dụng tại VN. Ngoài sự tích lũy những kinh nghiệm đã có, họ còn gửi những cán bộ, những người tu xuất ra nước ngoài để học những môn mới mà nhiều linh mục Việt Nam chưa biết đến như luân lý môi sinh, luân lý xã hội. Với những kiến thức và mưu ma chước quỉ ấy, CSVN đang đàn áp và phá hoại Giáo Hội một cách rất tinh vi.

Về phần chúng ta, qua 36 năm hoạt động ở hải ngoại, nhìn lại quãng đường dài đã đi, nhiều khi cảm thấy chán nản, thất vọng, muốn bỏ cuốc. Chúng ta bị ghép vào thành phần chống đối, thành phần đi bên lề Giáo Hội. Kinh nghiệm này tôi đã trải qua quá trình 19 năm hoạt động trong Phong Trào Giáo Dân. Một thí dụ cụ thể là khi giới thiệu những tác phẩm rất giá trị mà PT đã được phép phiên dịch và ấn hành, tác giả chính là Đức đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI, thì có linh mục Việt Nam tại hải ngoại này đã hỏi vặn chúng tôi rằng sách có được imprimatur không?!. Thật là mỉa mai khi tôi bước vào một tiệm sách Công Giáo tại Hoa Kỳ hay Âu Châu, tôi thấy trưng bày hàng ngàn sách của các tác giả người Tin Lành hay ngoài Công Giáo, ai muốn đọc, cứ tự nhiên. Ai đã quen dùng internet, chỉ cần vài cái nhấp tay là có hằng hà sa số tài liệu từ Kinh Thánh, Giáo Luật, thần học hiện lên, tha hồ mà đọc, chẳng cần phải xin phép ai. Những câu hỏi như trên nói lên điều gì? Giáo dân các anh ngu dốt! Từ đó tôi rút ra một kết luận, giá thử khi xưa tôi không học kỹ thuật để kiếm cơm, mà học thần học, giáo luật, hay kinh thánh để có bằng cấp về các môn ấy…chắc tiếng nói của tôi có trọng lượng hơn nhiều!

Trở lại chủ đề của cuộc hội ngô hôm nay, nếu chúng ta có ý định đóng góp cho Giáo Hội bên nhà dưới hình thức nào đó, qua một tổ chức đoàn thể hay, phong trào….điều quan trọng là không bị trói buộc vào cơ chế thì mới có cơ hội phát huy được những sáng kiến. Chúng ta cũng có thể học hỏi kinh nghiệm của hàng trăm tổ chức giáo dân tại Âu Châu và Hoa Kỳ, họ hoạt động rất tích cực và làm được những việc lớn lao cho Giáo Hội và xã hội.

Trong gợi ý về PhongTrào Công Lý và Hòa Bình, tôi có được vinh hạnh tham dự vào PT này khi Đức Cha Thuận về làm Giám Mục Nha Trang (1967-1975). Những khóa cán bộ CLHB được tổ chức rầm rộ, khiến cho chính quyền lúc ấy rất phấn khởi, ông Lê Khánh, tỉnh trưởng Khánh Hòa đến thăm một khóa và đã phát biểu đại ý rằng nếu nơi nào cũng được tổ chức những khóa như thế này thì chúng ta không còn sợ CS nữa. Nhưng PTCLHB chỉ lan vào đến Xuân Lộc rồi khựng lại tại đó, lý do đơn giản là người ta loan tin rằng "đức cha Thuận làm chính trị". Cùng với cái điệp khúc kèm theo "tôn giáo không làm chính trị!" dẫn đến hệ lụy năm 1975, và kéo dài đến hôm nay cả trong nước lẫn hải ngoại này.

Tôi nghĩ chúng ta biết chỗ đứng của giáo dân trong giáo hội, nhất là từ sau Công Đồng Vaticano II. Nhưng giáo dân có được chuẩn bị để làm tròn sứ mạnh của mình như Giáo Hội mong muốn không? Khi còn ở Việt Nam trước 1975, tôi thấy rất ít, ngoài một số lớp thần học giáo dân sơ đẳng, còn lại là sinh hoạt hội đoàn Công Giáo Tiến Hành, phụng vụ, nghi lễ mà thôi.

Đầu năm 2006 Đức Giám Mục Mai Thanh Lương trao cho tôi quyển sách có tựa đề "Co-Workers in the Vineyard of the Lord", tạm dịch là "những cộng tác viên trong vườn nho Thiên Chúa". Đức Cha rất phấn khởi bảo chúng tôi dịch gấp ra Tiếng Việt, và Đức Cha sẽ giúp xin phép HĐGMHK cho in và phổ biến. Đó là một tài liệu của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, đúng ra đó là một ‘bản tuyên ngôn’ trong ấy các giám mục Hoa Kỳ nhìn nhận và vinh danh sự đóng góp to lớn cả về lượng lẫn phẩm của người giáo dân Hoa Kỳ cho Giáo Hội, từ giáo xứ đến giáo phận, đến cấp quốc gia và quốc tế; từ lãnh vực giáo dục, quản trị đến cố vấn….Tuyên ngôn còn vạch ra cả một lộ trình hướng dẫn, đào tạo, nâng đỡ và hợp tác giữa giáo sĩ và giáo dân.

Rất tiếc sau khi dịch xong, Đức Cha không còn muốn cho in nữa?! Tôi không muốn tìm hiểu lý do đàng sau quyết định ấy.

Có quí vị nhắc đến trường hợp Giáo Hội Công Giáo Đại Hàn để so sánh với GHCGVN qua bài khảo cứu của cha Nguyễn Ngọc Sơn, nguyên là thư ký HĐGMVN. Tôi xin góp thêm một chi tiết nhỏ để chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn. Hoàn cảnh chính trị hai quộc gia gần giống nhau. Năm 1953 Triều Tiên bị chia đôi là Bắc Hàn và Nam Hàn. Năm 1954 Việt Nam cũng bị chia đôi Nam Bắc. Cùng thời gian ấy (1954), tỷ lệ người Công Giáo tại Việt Nam là hơn 7%, còn Hàn Quốc chưa đầy 1%. Sau 50 năm (2004) truyền giáo, tại Việt Nam có 7.34% dân số Công Giáo, trong khi ấy Nam Hàn có hơn 9% Công Giáo. Câu hỏi đặt ra là tại sao có sự khác biệt xa như vậy, đặc biệt là tại VN tỷ lệ người CG gia tăng thấp hơn tỷ lệ gia tăng dân số; mặc dầu người CG cấm ngừa thai, phá thai? Có nhiều câu trả lời cho vấn nạn trên, nhưng có một lý do tôi cho là chính xác nhất đó là người giáo dân Nam Hàn được chuẩn bị kỹ càng hơn, và có thể nói rằng họ trưởng thanh hơn giáo dân VN. Bằng chứng là Nam Hàn có hàng chục người giáo dân có học vị tiển sĩ kinh thánh, một môn học rất khó, hàng trăm giáo dân có bằng tiến sĩ thần học, giáo luật. Quí vị nào có dịp đến Roma, nếu để ý sẽ thấy từng đoàn người Đại Hàn, nhất là giới trẻ họ đi hành hương và quây quần học hỏi chia sẻ với nhau ra sao. Từ đó chúng ta thấy được tại sao Đại Hàn đã thành công trong việc truyền giáo.

Tóm lại nếu muốn đóng góp cho Giáo Hội, chúng ta không thể chờ giáo sĩ, tu sĩ trang bị cho chúng ta, mà chính chúng ta phải tự trang bị cho mình những hành hành trang cần thiết. Những ai có điểu kiện, nên ghi danh học các môn Kinh thánh, Tôn giáo, Công Lý Hoa Bình….ở các đại học.

Tại VN hôm nay không thiếu ơn gọi linh mục, tu sĩ, có thể nói là dư thừa nữa. Nhưng chắc chắn Giáo Hội VN cần đến những giáo dân kiên cường, vì họ là những chiến sĩ sống trong lòng xã hội, họ là men, muối, là chứng nhân của sự thật. Ở hải ngoại có thể giúp phương tiện để đào tạo giáo dân trở thành những Kitô hữu đích thực qua các chương trình học hỏi, hội thảo, cấp học bổng. Mở những khóa tu nghiệp ngắn hạn, dài hạn, lớp hàm thụ. Học qua internet…v.v.Tôi cho đó là những đóng góp cụ thể và có ích lợi lâu dài. Nhưng trước hết và trên hết, người giáo dân VN phải có trách nhiệm trực tiếp đối với vận mệnh chung của cả dân tộc, chúng ta không thể là một ốc đảo giữa lòng xã hội VN khi chỉ có chưa đầy 8% dân số là người công giáo.

Đó là đôi điều xin chia sẻ cùng quí cha và quí vị.

Đỗ Như Điện.

"Nhận định về tình hình Đất Nước hiện nay"

GS Nguyễn Đức Tuyên
(Aliso Viejo, Nam California, HK)

Kính thưa qúy vị và qúy bạn, bài tham luận của tôi gồm 7 điểm:

Nhìn chung, Việt Nam hiện nay đang có một nền kinh tế thị trường tự do hoang dã và một nền chính trị độc tài toàn trị. Người dân Việt Nam đang chịu cảnh bất công, tham nhũng vô độ, đặc biệt là khối dân oan bị chiếm đất, nhân phẩm của phụ nữ bị chà đạp, và người nông dân đói nghèo. Nền độc lập bị Trung Quốc đe dọa lấn đất, chiếm biển, khống chế dòng nước sông Mê Kông và sự khiếp nhược của nhà cầm quyền vì quyền lợi của phe đảng.

Năm 2010 được coi như năm bản lề, đánh dấu những biến thái trong xã hội, với sự quyết tâm duy trì sự chuyên chính của nhà cầm quyền, đối lập với ý thức dân chủ, dân quyền và tự do của người dân thể hiện qua kỹ thuật mới là internet toàn cầu, của hàng triệu bloggers trên khắp nước. Hiện tượng Ngô Quang Kiệt và những hậu qủa tiếp theo, được coi như một dấu mốc trong năm.

Sự quyết tâm của nhà cầm quyền qua Nghi Quyết của Đại Hội Đảng Cộng Sản lần XI, và hàng loạt những cuộc bắt bớ trong suốt năm 2010 sang tới năm 2011, chứng tỏ cho thế giới và trong nước thấy rằng những hy vọng sự đổi mới của chính quyền và sự đối thoại, chỉ là ảo tưởng hão huyền.

Chính sách bất công và thô bạo đối với sắc tộc, đặc biệt là việc chiếm cứ đất đại, tàn phá môi trường, hủy hoại văn hóa và đàn áp tôn giáo đã dẫn đến cuộc bạo loạn vào giữa tháng 4 năm 2004, 2008 ở Tây nguyên Trung phần và đầu tháng 5 năm 2011 ở vùng Mường Nhé, Diện Biên.

Sự bắt bớ các nhà dân chủ với những lý do lố bịch, không cần che đậy như: Điếu Cầy trốn thuế, Trần Khải Thanh Thủy đánh người, và vụ bắt Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, khởi đầu với 2 bao cao su đã sử dụng, kết thúc bằng điều 88 Bộ Hình Luật. Tiến trình xét xử các vụ kiện không theo đúng thủ tục do chính nhà cầm quyền đặt ra, khiến GS Phạm Toàn công khai chỉ trích phiên tòa là mang tinh chất lưu manh. Trong vụ án Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và 2 người khác chẳng han, chỉ có 28 phút để hội đồng luận tội; tất cả, đưa tới điều mà GS Triết Nguyễn Văn Lục gọi thời nay ở Việt Nam, là thời "đồ đểu".

Mấy năm trước, tôi có làm một cuộc nghiên cứu nhỏ về Giáo Dục ở Việt Nam, 3 bài đăng trên tờ Truyền Thông bên Canada, tôi thiết nghĩ, 12 năm học ở trung học và 4 năm ở đại học Việt Nam hiện nay, một phần ba chương trình là vô bổ so với kiến thức cần thiết của học sinh và sinh viên, chưa kể tới những người giảng dậy và cách giảng dậy vô trách nhiệm. Vì vậy mà học sinh, sinh viên ra trường không biết làm gì. Còn về đức dục thì sự xuống cấp thê thảm. Mới đây, vụ án hiệu trưởng Sầm Đức Xương làm "tú ông" cho nữ sinh trong trường, phải liên hệ tình dục với các đảng viên cao cấp trong tỉnh, trong đó có chủ tịch Nguyễn Trường Tô cũng là một đặc trưng của chế độ. Về tài nguyên tinh thần và giáo dục công dân, theo thiển ý, sau khi chế độ này sụp đổ, cần khoảng 50 năm mới tái tạo lại được.

Cuộc thảo luận thẳng thắn của các nhà trí thức thuộc Hội khoa học kinh tế, trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia do GS Trần Phương làm chủ tịch diễn ra vào ngày 7.10.2010 tại Hà Nội nhằm mục đích góp ý cho các Dự thảo Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng Sản. Kết luận, hầu như tất cả tham dự viên đều cho rằng Chủ nghĩa Marx –Lenin đã lỗi thời, cần phế bỏ.

Ý thức dân chủ, ý chí tự do và lòng quả cảm của quần chúng với hình ảnh tay mang cành thiên tuế của hàng ngàn đồng bào Hà Nội ngày xử vụ án Thái Hà với sự xuất hiện hàng triệu bloggers cùng những bài viết đọc không hết, nhất là những tấm gương hiên ngang, không biết sợ của những phụ nữ trong năm qua, điển hình là nữ luật sư Lê Thị Công Nhân, là những viên ngọc qúy của thời đại.

Quả thực, dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất hạnh vì mang họa cộng sản. Nhưng, nói theo Đức Gioan Phaolô II, "Rốt cuộc họ sẽ tự kết liễu họ thôi".

Xin chân thành cảm ơn sự lắng nghe của qúy vị và qúy bạn.

Nguyễn Đức Tuyên (04-6-2011)

Vai trò và trách nhiệm của TTCG trước hiện tình GH và QH

GS, nhà văn Trần Trung Lương
(Montréal, Canada)

Các vấn đề quan trọng về vai trò của Truyền Thông CG trước hiện tình GH và QH đã được các diễn giả sáng nay và chiều nay trình bày hết rồi. Tôi chỉ xin đóng góp đôi điều về cách giữ đạo và truyền đạo tại quê nhà mà tôi nhìn thấy trên các hệ thống truyền thông, theo cái nhìn cá nhân và chủ quan của tôi .

1 . Giữ đạo tại quê nhà.

Đã 36 năm, tôi chưa hề về VN, nhưng qua các DVD và các hình ảnh phóng sự trên internet, tôi thấy giáo hội quê nhà rất giàu có và sinh hoạt rất rầm rộ, và hình như chú trọng nhiều đến bề ngoài, đến phô trương và trính diễn. Tôi xin dẫn chứng qua 2 việc : lễ lạc và xây cất.

a/ Các cuộc l࿅, như Khai mạc Năm Thánh, Bế Mạc Năm Thánh, Đại Hội Giáo Dân, Hành hương La Vang, Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh …thật là hoành tráng, trọng thể, đẹp mắt, kèn trống rộn ràng, các Đức Cha các linh mục đông đảo, lễ phục uy nghi , các đoàn thể đồng phục xanh đỏ sang trọng, ca đoàn đàn hát rộn ràng từ đầu đến cuối… Những sự việc này cho tôi cảm tưởng là giáo hội VN bậy giờ có vẻ như chú trọng nhiều đến phô trương trình diễn. Điều làm tôi thất vọng là trong các buổi lễ tôi không thấy cộng đoàn được cầu nguyện chung, được đọc những kinh rất sốt sắng như kinh Cáo Mình, kinh Xin Chúa thương xót, Kinh Tin kính, kinh Lạy Cha, mà toàn thấy ca đoàn hát, ban nhạc đánh trống thổi kèn... Giáo dân phải ở trong thế rất thụ động, nghe hát và xem trình diễn.

b/ Xây nhà thờ. Một sinh hoạt khác rất thịnh hành bây giờ, là các nơi đua nhau xây nhà thờ mới, và lễ lạc ăn mừng rất trọng thể, các diễn văn rất kêu rất nổ …

Qua các cuộc phô trương lễ lạc cũng như xây cất cơ sở trên đây, cứ tạm coi là một cách sống để giữ đạo, câu hỏi đặt ra là cách giữ đạo như thế này có cần thiết không, có làm cho lòng giáo dân sống đạo mến Chúa yêu người hơn không? Có tính cách truyền giáo, chinh phục được người ngoài đạo không? Viết đến đây, tôi nhớ lời Đức Thánh Cha Paul VI ‘ Con người thời nay không cần thầy dậy, nhưng cần nhiều nhân chứng’. Sống trình diễn và phô trương như vậy liệu làm chứng cho Chúa được bao nhiêu?

2. Truyền giáo ở quê nhà

Theo phúc trình của Cha Sơn TTK Hội Đồng GMVN năm vừa qua thì số giáo dân đã không tăng cân xứng với việc gia tăng dân số. Ngày xưa số giáo dân là 8%, nay là 7%. Tại sao vậy? Giáo dân bỏ đạo chăng? Đặc biệt số tân tòng rất thấp. Xưa nhập đạo là vì yêu mến đạo, nay nhập đạo đa số là để kết hôn, hay để con cái được học trường đạo… Tôi chưa hề nghe thấy có cuộc nhập đạo CG vì đã xem các cuộc đại lễ hoành tráng, hay vì đã thấy những nhà thờ xây cất vĩ đại.

Trong 100 hình ảnh trên internet về các sinh hoạt của CGVN thì 95% là những hình ảnh khoa trương trình diễn, kèn trống lọng loa, chỉ khoảng 5% là hình ảnh đi cứu trợ, thăm viếng người bệnh tật. Mà những cuộc thăm viếng này hình như cũng có tính cách giai đoạn, nhất thì, không liên tục, đi thăm và tặng quà một lần rồi thôi.

Chúng ta cần việc làm bác ái bền bỉ đại loại như Cha Nguyễn Văn Đông ở Kontum năm xua, cha vào rừng thường xuyên thăm những người Thượng già phong cùi bị con cái vất bỏ trong rừng trong nhiều năm. Tôi đưa chuyện Cha Đông lên báo cách đây mấy năm, hồi đó mấy bà trên Chùa ở Toronto đọc báo xong thì mủi lòng đã góp tiền và nhờ tôi chuyển tiền cho Cha Đông .

Hình như ở quê nhà ít có những chương trình bác ái dấu mặt và thầm lặng như kiểu Cha Đông, Chính những việc làm âm thầm và bền bỉ này mới thực sự đánh động lòng người, mới lôi kéo người về với Chúa, mới truyền giáo được.

Tôi không nghe nói đến có uỷ ban nào trong Hội Đồng Giám Mục VN đặc trách việc truyền giáo.

KẾT :

Tôi không dám đứng ở ngoài đóng vai quan tòa chỉ trích giáo hội tại quê hương. Tôi vẫn tự hỏi: chúng ta nhìn ra nhiều vấn đề, chẳng lẽ quê nhà không nhìn ra như chúng ta sao? Vậy phải làm sao bây giờ? Xin thú thực: tôi chưa biết phải làm sao bây giờ. Xin cho tôi được lắng nghe lời góp ý của qúy vị.

TRÀ LŨ

California, June 4, 2011

1. Bài báo này là của tác giả Tomka Ferenc đăng trên tuần báo Công giáo "Con người mới" (Új ember) của Hungary (không thấy ghi ngày tháng) do Trần Lê chuyển ngữ và đăng tải trên Nhịp Cầu Thế Giới Online. Dân Luận đăng lại ngày 11/4/2011.