Viết Từ Canada
Mặc Giao
GIÁO HỘI CGVN CÓ THỂ TRỞ THÀNH GH TỰ TRỊ NHƯ TẠI TRUNG QUỐC KHÔNG?
Trong thời gian gần đây, nhà cầm quyền Trung Quốc đã hành xử một cách thô bạo với Công Giáo Trung Quốc trong việc phong chức giám mục cho những người không được Đức Giáo Hoàng công nhận. Từ ngày 18-11-2010 cho tới ngày 14-7-2011, họ đã ba lần tấn phong những giám mục do họ chọn, bất chấp sự phản đối của Tòa Thánh Vatican. Giám mục là người đại diện Giáo Hoàng coi sóc giáo dân tại một địa phương về tinh thần. Muốn là đại diện Giáo Hoàng thì phải được Giáo Hoàng tuyển chọn và tấn phong (lễ tấn phong thường do một giám mục khác thay mặt Giáo Hoàng cử hành). Nhà nước Trung Hoa tự cho mình quyền thống trị cả đời lẫn đạo. Họ tự ý chọn giám mục (qua Tôn Giáo Vụ và những linh mục thuộc giáo hội nhà nước), không hỏi ý và không cần sự đồng ý của Giáo Hoàng, tự ý tổ chức lễ tấn phong. Trong vụ tấn phong giám mục nhà nước Hoàng Bích Chương (Huang Bingzhang) thuộc giáo phận Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông, ngày 14-7-2011 vừa qua, nhà cầm quyền thế tục đã trực tiếp can thiệp vào việc đạo từ A đến Z. Để bảo đảm có giám mục cử hành nghi lễ, và để biểu dương sự nhất trí xếp hàng tuân phục của các giám mục trước quyết định của nhà nước, công an đã cưỡng chế 4 giám mục thuộc tỉnh Quảng Đông rời nhiệm sở đến một nơi bí mật được canh gác cẩn thận. Có bốn giám mục khác cũng bị bắt cóc, trong đó có Giám Mục Bùi Quân Dân (Pei Junmin) của giáo phận Liễu Minh, được chỉ định làm người chủ phong. Trước những hành động côn đồ như vậy, Vatican không thể có phản ứng nào khác ngoài việc phản đối, bầy tỏ mối đau buồn, không công nhận giám mục do nhà nước Trung Hoa chọn và ra vạ tuyệt thông cho "tân giám mục" Hoàng Bích Chương.
Qua sự việc trên, và nhìn về Giáo Hội VN, một số người nêu thắc mắc: liệu nhà nước cộng sản VN có dám hành động như cộng sản Trung Hoa? và Giáo Hội Công Giáo VN có thể trở thành một giáo hội quốc doanh giống như tại Trung Quốc hay không?
Để nhìn rõ vấn đề, chúng ta nên duyệt qua những điểm giống nhau và khác nhau giữa hoàn cảnh của giáo hội hai nước.
- Những điểm giống nhau:
1/ Hai nước đều bị cai trị bởi một chế độ cộng sản độc tài toàn trị. Đảng và nhà nước muốn nắm trong tay mọi sinh hoạt quốc gia, kiểm soát mọi hoạt động của người dân, kể cả sinh hoạt tinh thần. Vì vậy họ không bao giờ để cho một giáo hội được độc lập và tự do.
2/ Các chế độ cộng sản rất e ngại những người dân có đức tin tôn giáo. Họ biết không dễ tẩy não những tín đồ của các đạo giáo để những người này bỏ niềm tin của mình và tin phục một thứ tôn giáo mới là chủ thuyết cộng sản. Muốn khống chế các khối tín đồ, cộng sản dùng chiến thuật chia để trị, dụ dỗ và răn đe những người lãnh đạo. Khi lãnh đạo các tôn giáo đã công khai hay ngấm ngầm làm theo ý nhà nước thì khối tín đồ sẽ mất sức mạnh, vì như rắn không đầu.
3/ Vì nhu cầu tuyên truyền và giao lưu với thế giới bên ngoài, các chế độ cộng sản phải tạo một vỏ ngoài tự do tôn giáo với việc cho phép tín đồ dự các nghi lễ, đôi khi được khuyến khích tổ chức những lễ hội thật vĩ đại, linh đình qúa sự cần thiết với mục đích phô trương, cho phép xây cất các cơ sở tôn giáo và các nơi thờ tự thật "hoành tráng", cho trình diễn một hàng giáo phẩm với đủ chức tước và phẩm phục lộng lẫy. Nhưng bên trong cái vỏ hào nhoáng đó là cả một hệ thống kiểm soát tinh vi khiến nhiều vị chức sắc tưởng mình đầy uy quyền nhưng thực tế chỉ là tay sai của nhà nước.
- Những điểm khác biệt:
1/ Cộng sản Trung Hoa đã cắt đứt mọi liên hệ với Tòa Thánh Vatican từ năm 1951 sau khi họ chiếm toàn thể Hoa lục (1949). Họ lập Giáo Hội Công Giáo Yêu Nước tự trị, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tôn Giáo Vụ. Lập tức, Công Giáo Trung Hoa chia thành hai phe, một phe theo Giáo Hội nhà nước, phe khác trung thành với Vatican nên bị đàn áp, bách hại. Phe này phải giữ đạo một cách kín đáo, huấn luyện và truyền chức linh mục một cách bí mật. Vì vậy họ còn được gọi là Giáo Hội Hầm Trú.
Trong khi đó cộng sản VN không thể thành lập một giáo hội nhà nước tương tự, dù ngay tại miền Bắc nơi họ đã kiểm soát toàn bộ từ 1954 tới 1975. Lý do chính là giáo dân VN không tin phục những linh mục theo hoặc cộng tác với cộng sản, các giám mục dù bị đàn áp, bắt bớ, vẫn cương quyết trung thành với Giáo Hội chính truyền.
2/ Cộng sản VN, vì không thể cắt đứt liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo với Vatican, đã cho thành lập tại miền Bắc "Ủy Ban Liên Lạc Toàn Quốc những người Công Giáo yêu nước và hòa bình" gồm một thiểu số linh mục sẵn sàng làm tay sai cho cộng sản. Mục đích của cộng sản là dùng Ủy Ban này làm công cụ lũng đoạn Giáo Hội. May thay, hàng giáo phẩm và giáo dân miền Bắc thấy rõ âm mưu. Họ đã làm cho Ủy Ban trở thành bất lực và vô dụng bằng việc bất hợp tác. Khi Ủy Ban này gần chết thì biến cố 30-4-1975 xảy ra, cộng sản cho thiết lập trên toàn quốc "Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước" (sau bỏ 2 chữ ‘Yêu Nước’ và thay bằng ‘Việt Nam’) nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc, tổ chức quần chúng ngoại vi của đảng cộng sản. Ủy Ban sau hoạt động hiệu qủa hơn Ủy Ban trước, bằng chứng là nó có thể thao túng phần nào giáo quyền và khiến một số chức sắc trong giáo hội phải nhờ cậy nó làm trung gian xin xỏ với nhà nước.
3/ Cộng sản Trung Hoa có thể dứt khoát với Vatican vì dù sao họ cũng có sức mạnh của một nước lớn (kể cả lúc còn rất nghèo, họ vẫn có thể ỷ vào sức mạnh lấy thịt đè người) và số giáo dân chỉ có khoảng 1% dân số (13 triệu), một con số không đáng kể so với một biển người trên 1.3 tỷ. Trong khi đó giáo dân VN chiếm từ 7 đến 8% dân số, đông thứ nhì chỉ sau đồng bào Phật tử. Vì vậy cộng sản Trung Hoa có thể hành động song tàng, không cần lẽ phải và không nể nang ai. Ngược lại, cộng sản VN thì vừa trèo vừa run vì còn phải e ngại những lực cản và lực chống cả ở trong lẫn ngoài nước.
4/ Giáo Hội miền Bắc trong thời gian cộng sản mới chiếm không có một giám mục nào cộng tác với chế độ mới theo nghiã thỏa hiệp để có đặc ân hay được an thân. Những tấm gương kiên cường bảo vệ đức tin của các Hồng Y Trịnh Như Khuê, Trịnh Văn Căn, Giám Mục Lê Đắc Trọng… luôn luôn sáng ngời. Ở trong Nam sau 1975 có khuynh hướng hòa giải và cộng tác, đứng đầu là Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình. Tuy nhiên, không có vị mục tử nào chấp thuận việc cắt đứt liên hệ với Tòa Thánh Vatican để trở thành một giáo hội tự trị. Ngoài ra, Giáo Hội Công Giáo tại miền Nam cũng không thiếu những vị mục tử can trường, chấp nhận mất chức, mất quyền, kể cả mất mạng, để bảo vệ đức tin, bảo vệ Giáo Hội toàn vẹn và hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ. Chúng ta phải kể Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, Giám Mục Huỳnh Văn Nghi… Đặc biệt, Giám Mục Nguyễn Minh Nhật (Xuân Lộc), năm 1990 khi giữ nhiệm vụ Chủ Tịch Hội Đồng Giám Muc VN, đã gửi điện văn cho Đại Hội Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước họp tại Hà Nội xác định rõ rệt lòng trung thành với Giáo Hội chính truyền. Ngài còn ra văn thư khuyến cáo các linh mục không được tham gia Ủy Ban này.
Vì những khác biệt giữa hoàn cảnh hai nước, giữa khối lượng giáo dân theo tỷ lệ dân số, giữa tâm trạng, nhận thức và phản ứng của giáo phẩm và giáo dân thuộc hai giáo hội, cộng sản VN đã không thể thành lập một giáo hội Công Giáo quốc doanh như ở Trung Quốc.
Tuy nhiên, cộng sản VN không chịu khoanh tay thúc thủ. Họ đã tìm trăm mưu ngàn kế để lũng đoạn và khống chế Giáo Hội.
Qua giai đoạn đánh phủ đầu để bắt thuần phục, cộng sản đã nhẹ tay hơn, nhưng dùng những chiêu khác rất tinh vi và thâm độc:
- Cho mở cửa lại các đại chủng viện nhưng xét lý lịch rất kỹ các thí sinh dự tuyển, cứu xét lý lịch các giáo sư và bắt ghi vào học trình môn học về chủ nghiã Mác-Lênin, lịch sử và thành tích của đảng cộng sản VN. Các giảng viên là cán bộ nhà nước được cử tới dậy. Mới đây, tại chủng viện Thánh Qúy thuộc giáo phận Cần Thơ, nhà cầm quyền cộng sản còn ngang nhiên bắt dậy "lớp thí điểm chương trình an ninh quốc phòng, chống diễn biến hòa bình" cho 191 chủng sinh. Việc đào tạo những linh mục tương lai có liên quan gì đến những môn học này ngoài ý đồ uốn nắn các chuẩn mục tử trở thành những cảm tình viên hay công cụ của đảng và nhà nước?
- Các chủng sinh sau khi học xong cũng phải được phép của nhà cầm quyền mới được truyền chức linh mục. Biện pháp này đã được nới lỏng đôi chút bằng việc cho giám mục gửi danh sách ứng viên linh mục lên thẩm quyền liên hệ để xin phép trước, nếu qúa một thời hạn nào đó mà thẩm quyền không trả lời, coi như họ đã mặc nhiên chấp thuận. Tuy nhiên, những khó khăn chưa hết. Khi nhà cầm quyền không bằng lòng việc cử một linh mục đi phục vụ tại một nơi nào đó, thẩm quyền địa phương chỉ cần chơi trò không cấp hộ khẩu là linh mục đó không thể đến làm việc tại nơi được chỉ định.
- Đòn thâm độc nhất là dành quyền quyết định về việc chọn lựa các giám mục do Tòa Thánh đề nghị. Mỗi khi đề nghị một tân giám mục, Tòa Thánh thường có sẵn ba ứng viên. Người thứ nhất thường là ứng viên Tòa Thánh cho là xứng đáng nhất về tài năng, tư cách và đạo đức. Nếu nhà nước chấp thuận thì mọi sự êm đẹp. Nếu không, Tòa Thánh phải đưa danh tánh ứng viên thứ nhì, nhiều khi phải đưa ứng viên thứ ba, có khi cả ba đều bị nhà nước bác khước. Nhà nước, nếu không kiếm được ứng viên có lập trường ủng hộ mình, thì chỉ chọn những người tròn trịa, hiền lành, không lập trường và dễ uốn nắn. Với lối tuyển chọn này, phẩm chất các ứng viên từ từ xuống cấp. Chỉ cần là người có lập trường độc lập cũng đủ để bị bác bỏ. Như vậy có thể nói Giáo Hoàng không có toàn quyền chỉ định mục tử thay mặt mình ở địa phương, vì chính nhà nước cộng sản có tiếng nói quyết định cuối cùng.
- Với lối tuyển chọn giám mục như trên, nhà nước sẽ có những giám mục được tấn phong rất hợp lệ nhưng rất khiêm nhu, ngoan ngoãn, dễ bị lung lạc. Ngoài quy chế xin-cho, nhà nước luôn có những hứa hẹn, tưởng thưởng, kèm theo những răn đe và hình phạt. Như vậy, nếu muốn được yên ổn cùng con chiên giữ đạo trong "ghetto" của mình, được phép xây nhà thờ lộng lẫy, được truyền chức thêm linh mục, được đi ngoại quốc làm "mục vụ hải ngoại", các vị phải chiều ý nhà nước, nếu không nói là tuân lệnh nhà nước, tiếp tay với nhà nước dựng "show" tự do tôn giáo, tốt đạo đẹp đời. Chủ nghiã tương đối và chủ nghiã thực dụng nảy sinh từ đó. Tạm quên công lý, nhân quyền. Tạm quên đòi hỏi quyền lợi cho người nghèo, người bị bóc lột, người bị áp bức. Tạm quên bênh vực những thiếu nữ bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục, và nhất là quên luôn việc tranh đấu cho quyền tự do quản trị việc nội bộ của giáo hội. Chỉ biết lo giữ đạo và giữ mối giao hảo với quyền hành thế tục bằng khẩu hiệu "cộng tác và đối thoại". Một khi đã nắm đằng chuôi, cộng sản cho đằng lưỡi thả cửa biểu diễn múa may. Nếu múa không khéo, lỡ đứt tay, là lỗi của người múa. Lễ hội Năm Thánh càng tưng bừng càng được tiếng tốt cho nhà nước, càng khiến bổn đạo ngây ngất sống trong mơ. Chẳng còn sợ diễn biến hòa bình. Chẳng còn lo cách mạng hoa nhài, hoa sen hay hoa súng gì nữa.
Chính sách tôn giáo của cộng sản VN đang đem lại "hoa trái" cho họ như thế, tại sao có người còn e sợ một ngày nào đó họ sẽ biến Giáo Hội Công Giáo VN thành một giáo hội quốc doanh như Giáo Hội Yêu Nước ở Trung Quốc?
Nỗi e ngại này không phải là vô căn cứ. Vụ Hồng Y Phạm Minh Mẫn cầm đầu một phái đoàn gồm một số giám mục và linh mục đảng viên Huỳnh Công Minh đi thăm giáo hội quốc doanh Trung Quốc năm 2007 mà không hề thăm hỏi một ai thuộc Giáo Hội Hầm Trú, vụ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt bị chèn ép đến độ phải từ chức cho đẹp lòng nhà nước, gần đây nhất là vụ Giám Mục Phụ Tá Sài Gòn Nguyễn Văn Khảm đi tiếp xúc nói chuyện với Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo về Sứ Điệp của Đại Hội Dân Chúa và Công Nghị 2011 (chưa được mở) của Tổng Giáo Phận "TP HCM" đã chứng tỏ các vị lãnh đạo cao cấp nhất của Giáo Hội CGVN rất sợ nhà nước, rất trọng Giáo Hội tự trị Trung Hoa dù giáo hội này đã cắt liên lạc với Tòa Thánh, và rất nể Ủy Ban Đoàn Kết Tôn Giáo. Mặc dù Ủy Ban này chỉ là một công cụ của cộng sản lập ra để phá Giáo Hội, không có trong cơ cấu Giáo Hội, nhưng vẫn đầy quyền uy, khiến Giám Mục Phụ Tá Sàigon phải đích thân tìm đến báo cáo về Đại Hội Dân Chúa 2010 và trình trước về Công Nghị sắp diễn ra của Tổng Giáo Phận (theo website của Tổng Giáo Phận TP. HCM ngày 30-3-2011). Tất cả những sự việc này cộng thêm những hành động hung hăng bất kể đạo lý, pháp lý và nguyên tắc ngoại giao của Trung Quốc trong việc tự phong hàng loạt giám mục cách bất hợp pháp, người ta có lý do để e ngại cộng sản VN có thể bắt chước đàn anh, lợi dụng thời cơ để làm một lần cho gọn. Đó là biến Giáo Hội CGVN thành một giáo hội quốc doanh tự trị, khỏi cần né tránh ai, khỏi cần điều đình với Vatican, khỏi cần chờ lệnh của Giáo Hoàng, chỉ cần lệnh của Ủy Ban Tôn Giáo nhà nước ban ra là đủ. Ai chống đối, không chịu đi theo giáo hội mới, cứ việc bắt chước Giáo Hội Hầm Trú Trung Quốc sống đạo chui rúc. Nếu có bị bắt bớ, đánh đập dã man, bỏ tù mút mùa thì ráng mà chịu!
Xét cho đáo lý, cộng sản VN chẳng cần lập Giáo Hội CG quốc doanh để bị mang tiếng thêm và bị các nước đối tác thương mại sửa lưng về tội tước đoạt đến tận cùng quyền tự do tôn giáo. Cứ như tình trạng hiện nay, họ đã nắm vững, kiểm soát và lèo lái Giáo Hội CG trong nước theo ý họ rồi. Cần gì phải đổi tên cho rắc rối. Tên mới hay tên cũ, nội dung có khác gì đâu? Trên thực tế, vẫn còn nhiều mục tử kiên cường không chịu khuất phục, nhưng đa số các vị này có thái độ nể nang, cư xử theo kiểu "gentleman", tiếng nói của họ chỉ thì thào, bị lấn át bởi những giọng "đồng ca" ầm ĩ. Tuy nhiên, chính các vị này mới là linh hồn của Giáo Hội, là cột trụ chống đỡ Giáo Hội qua những cơn phong ba bão táp, cũng như hàng triệu giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân của Giáo Hội Hầm Trú Trung Quốc, sẵn sàng chịu bách hại để giữ cho đức tin không bị mai một trên quê hương họ.
Chúng ta chưa mất hết hy vọng. Nhưng có lúc vài anh em ngồi tán gẫu lại nghĩ quẩn nghĩ quanh: thà để cộng sản VN lập giáo hội quốc doanh thì mọi người mới thấy rõ trắng đen, dễ phân biệt ai xanh ai đỏ, còn hơn bây giờ nhìn Giáo Hội quê nhà cứ như nhìn hỏa mù, chỉ thấy "mờ mờ nhân ảnh", có định giơ tay đánh yêu cũng sợ đụng người ngay và hụt kẻ gian.
* * *
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ NÓI VỀ BIỂN ĐÔNG SẼ LÀM ĐẢNG CỘNG SẢN VN TAN RÃ
Biển Đông đang là điểm nóng của vùng Đông Nam Á, nếu không nói là của toàn thế giới, vì hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc đang dàn trận chiến ngoại giao, với tiềm lực võ trang yểm trợ phiá sau, để dành quyền kiểm soát biển này. Bị trực tiếp cuốn vào vòng tranh chấp có Phi Luật Tân và Việt Nam. Phi bị cuốn nhẹ hơn vì chỉ tranh chấp một số đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa và vùng biển liên quan. Việt Nam bị cuốn nặng hơn vì đã bị Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ 1974, đang bị Trung Quốc, qua bản đồ lãnh hải tự vẽ hình lưỡi bò chín đoạn, đòi chiếm nốt Trường Sa, nhất là bị chặn lối tiến ra Biển Đông và bị cấm khai thác tài nguyên ngay trên những vùng biển thuộc chủ quyền của mình. Phi đã phản ứng bằng việc đưa tầu chiến và máy bay ra vùng tranh chấp đuổi tầu Trung Quốc, đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc đòi giải quyết. Việt Nam thì chỉ phản đối miệng, hải quân trốn đâu mất, không bảo vệ đảo và biển của tổ quốc, không bảo vệ ngư dân, chuyên viên và thiết bị tìm kiếm dầu khí của mình bị tầu Trung Quốc đánh phá, chém giết, không dám đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc hoặc kiện tại Tòa Án Quốc Tế La Haye (The Hague). Ngược lại, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn còn phải lặn lội đi Bắc Kinh gặp Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Trương Chí Quân ngày 25-6-2011 và yết kiến đại đồng chí Đới Bình Quốc, Ủy Viên Ngoại Vụ của Trung Ương Đảng cộng sản Trung Hoa. Sau cuộc yết kiến này, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hồng Lỗi, trong cuộc họp báo ngày 28-6-2011, đã buộc chặt Việt Nam vào cái gọi là "hiểu biết chung về thỏa thuận đã đạt được" và tái khẳng định "Biển Nam Trung Hoa hoàn toàn thuộc chủ quyền Trung Quốc là điều không thể bàn cãi".
"Thỏa thuận đã đạt được" là cái gì? Phiá Trung Quốc chưa "bật mí". Phiá cộng sản VN càng phải giữ kín. Vì thế mới có 18 nhà trí thức ở trong nước gửi kiến nghị ngày 2-7-2011 yêu cầu Bộ Ngoại Giao làm sáng tỏ. Bộ Ngoại Giao lúng túng ra mặt, miễn cưỡng hẹn gặp những người ký kiến nghị tới Bộ vào ngày 13-7-2011. Đến sáng ngày hẹn, chỉ có bốn người: cựu Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà văn Nguyên Ngọc, Gs Phạm Duy Hiển, Gs Nguyễn Huệ Chi nhận được điện mời chính thức, 14 người khác thì không. Bộ cho xe đón một mình TT Nguyễn Trọng Vĩnh đến Bộ. Người được cử ra tiếp sẽ là Ô. Trần Duy Hải, Phó Ban Biên Giới, một chức vụ thấp, vô thẩm quyền, không thể tiết lộ về "thỏa thuận đã đạt đươc". Thiếu Tướng Vĩnh bỏ ra về. Những người khác chờ ở quán cà phê bên kia đường trước Bộ Ngoại Giao cũng bỏ về vì thấy nhà cầm quyền không có thiện chí giải tỏa những thắc mắc của dân, có gặp cũng chẳng đi đến đâu, chẳng biết thêm được gì.
Tân Hoa Xã ngày 28-6-2011, dựa theo lời tuyên bố của phát ngôn viên Hồng Lỗi, loan tin về sự thỏa thuận giữa hai thứ trưởng ngoại giao Việt Trung đại ý như sau:
Hai bên Trung Quốc và Việt Nam đã thỏa thuận
1/ Giải quyết tranh chấp bằng thương thuyết và tránh các động thái có thể làm cho vấn đề trầm trọng hay phức tạp thêm.
2/ Hai bên phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp Việt Hoa.
3/ Cam kết tích cực hướng dẫn công luận và tránh đưa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước.
4/ Hai bên xúc tiến mau lẹ việc tham khảo ý kiến để có một hiệp ước càng sớm càng tốt về các nguyên tắc căn bản nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh hải. Trung Quốc hy vọng phiá VN sẽ thực thi điều "đã thỏa thuận với chúng tôi" (người viết tô đậm) và cố gắng bảo vệ hòa bình và ổn cố "Biển Nam Trung Hoa".
( Trích website Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ, ngày 14-7-2011)
Toàn bộ những điều trên đều có lợi cho Trung Quốc và hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam: nói chuyện tay đôi để tránh quốc tế hóa vấn đề, gạt ASEAN và Hoa Kỳ ra khỏi cuộc tranh chấp, không để cho nhân dân và công luận đả kích lên án Trung Quốc, ký kết gấp một hiệp ước tay đôi để giải quyết các tranh chấp, nhất là thực thi điều "đã thỏa thuận với chúng tôi" (Trung Quốc).
Cộng sản VN đã thi hành từ lâu những điều ghi ở trên. Mới đây còn hành động tích cực hơn nữa trong việc leo thang đánh đập, bắt nhốt những người yêu nước biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và Sài Gòn. Nhưng điều quan trọng nhất mà mọi người muốn biết là cộng sản VN đã thỏa thuận ngầm với Trung Quốc những gì mà Bắc Kinh cứ nhắc đi nhắc lại để cột trói Hà Nội? Nếu không sợ há miệng mắc quai thì tại sao không dám công bố những thỏa thuận ngầm với Trung Quốc? Nếu không sợ lòi bộ mặt phản dân, bán nước thì việc gì phải năn nỉ Trung Quốc giữ kín? (nhưng cứ bị Trung Quốc dọa lật bài tẩy hoài). Như vậy thỏa thuận ngầm chỉ có thể là bán đứng các hải đảo và Biển Đông cho Trung Quốc để trả nợ cho hai cuộc chiến tranh và được bảo đảm sẽ được cứu khi có nội loạn hoặc ngoại xâm. Nếu không đúng như vậy thì chẳng có gì phải giữ kín.
Vì vậy, cộng sản VN đang ở thế kẹt. Im lặng, không hành động gì thì sẽ vừa lòng Trung Quốc, nhưng sẽ bị Trung Quốc chèn ép thêm do lòng tham không đáy, nhất là sẽ bị nhân dân kết án là khiếp nhược trước sự xâm lấn của ngoại bang, không làm bổn phận bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thô. Theo khối ASEAN với Hoa Kỳ đứng sau, có Ấn Độ, Nhật, Úc, Tân Tây Lan đồng tình để chống Trung Quốc thì sẽ làm cho Trung Quốc phẫn nộ, lỡ họ công bố những thỏa thuận mật bán đứng đất nước và láng giềng thì còn dám muối mặt nhìn ai. Vì vậy Hà Nội phải chơi trò "thua me gỡ bài cào", vẫn vuốt ve chủ nợ, đồng thời rắp ranh chơi ván bài mới với người khác để tìm cách gỡ gạc và cũng gián tiếp cho chủ nợ biết là tôi còn cửa khác để kiếm tiền, anh đừng ức hiếp tôi qúa. Những vận động với Khối ASEAN nhân kỳ hội nghị cấp ngoại trưởng của Khối sắp diễn ra tại Bali, Indonesia, tiếp đón ba chiến hạm Mỹ tại cảng Đà Nẵng và cho hải quân VN thao dược chung với hải quân Hoa Kỳ là bằng chứng đi dây và giữ thăng bằng giữa chủ nợ và những tay chơi mới. Chỉ cần hơi nghiêng về phiá khác là đã bị chủ nợ gọi đến sửa lưng và dọa nạt liền. Lối đi dây này của nhóm lãnh đạo Ba Đình nguy hiểm qúa! Nguy hiểm cho đảng của họ là điều đáng mừng. Nguy hiểm cho đất nước mới thậm cấp chí nguy.
Vấn đề Biển Đông đang nằm ở đâu? Xin thưa, đang nằm ở tình trạng chiến tranh ngoại giao và chiến tranh cân não. Hoa Kỳ muốn kéo cộng sản VN về phiá mình và muốn bảo vệ sự hiện diện của họ trong vùng qua việc ủng hộ Khối ASEAN. Trung Quốc thì muốn giữ chặt cộng sản VN bằng hứa hẹn và đe dọa. Họ không cần gây chiến tranh với Việt Nam, cũng không cần gây chiến tranh với Mỹ. Họ chỉ cần thỉnh thoảng vào lãnh hải VN đuổi, đánh ngư dân, phá hoại tài sản của VN rồi an toàn rút ra. Mục đích chỉ là để xác nhận chủ quyền của họ trên những vùng biển mà họ đã khẳng định là của họ và có thể đã được cộng sản VN ngầm công nhận. Họ muốn đặt thế giới trước một sự đã rồi khi họ toàn quyền khống chế Biển Đông. Nếu Hoa Kỳ cũng đòi được tự do di chuyển trên Biển Đông thì phải điều đình với họ, không dễ gì gây đại chiến để giải quyết vấn đề. Niềm hy vọng cho dân tộc Việt Nam chỉ trở thành hiện thực khi những thỏa thuận mật bán nước được đưa ra ánh sáng, khiến toàn dân thấy rõ bộ mặt của những kẻ phản quốc vì quyền lợi riêng. Lúc đó nhân dân sẽ có lý do rất cụ thể để dẹp bỏ tập đoàn phản quốc này. Cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc, chống kẻ nội thù sẽ có mục tiêu sờ thấy được, không xa vời, cao siêu và thuần ý niệm như tự do, dân chủ, nhân quyền.