Câu chuyện từ nước Đức

 

ĐẠI HỘI GIỚI TRẺ QUỐC TẾ

Khởi đầu từ những khó khăn

Dẫn vào một TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP

 

Đại Hội Giới Trẻ Quốc Tế (ĐHGTQT) ở Úc đã qua. Chỉ còn lại dư âm - đặc biệt dư âm màu sắc người Việt. Những ơn ích linh thiêng của Đại hội chắc chắn đang âm thầm ươm hoa kết trái. Tới nay, sau gần 25 năm, ĐHGTQT đã trở thành một truyền thống của Giáo hội công giáo, có một không hai trên thế giới. Nhưng truyền thống đó đã khởi đầu như thế nào và trong hoàn cảnh nào, ít ai biết.

Tôi theo dõi thánh lễ kết thúc đại hội chiếu lại trên màn ảnh truyền hình nước Đức. Sau thánh lễ, có cuộc phỏng vấn hồng i người Đức Paul Joseph Cordes, hiện là chủ tịch Hội Đồng Giáo Chủ Đồng Tâm (Cor Unum). Nội dung cuộc phỏng vấn này cũng đã được Hồng i trình bày trong ngày kỉ niệm 25 năm Trung Tâm Thanh Niên Quốc Tế San Lorenzo ở Rô-ma trươc đó. Hồng i cho hay về lịch sử khai sinh Đại Hội như sau:

Trong năm thánh 1983/84 Rô-ma chứng kiến cảnh tràn ngập các Hội đoàn, Cộng đoàn, Nhóm… đủ kiểu trong Giáo hội. Lúc đó, Trung Tâm San Lorenzo ở Rô-ma, do giáo chủ Gio-an Phao-lô II lập, cũng vừa khánh thành. Một thiện nguyện viên của Trung tâm, linh mục Massimo Camisasca, bất chợt hỏi giám mục Cordes, lúc đó là phụ tá chủ tịch Hội Đồng Giáo Chủ Về Giáo Dân: “Tại sao trong năm này ta không tổ chức luôn một đại hội giới trẻ quốc tế?” Gm. Cordes trả lời: “Sáng kiến hay đấy, nhưng ai làm?” Lúc đó, ở Vatican, không ai dám nghĩ tới một chuyện như thế. Chuyện này hoàn toàn ngoài tầm tay và khả năng của Hội đồng giáo dân. Có thể nói, chuyện không tưởng. Vả nữa, kinh nghiệm thất bại của năm 1975 còn sờ sờ trước mắt. Nhưng cuối cùng, phe thiểu số hăng hái đã thắng phe đa số ngần ngại.

Dĩ nhiên, cơ cấu đứng ra nhận việc là Hội đồng giáo dân. 6 tháng dài, Hội đồng gác lại tất cả mọi chuyện, đêm ngày chỉ còn biết có đại hội, mọi người bị ám ảnh bởi nỗi lo tổ chức. Càng gần đến ngày khai diễn, khó khăn càng chồng chất. Nhiều giám mục giáo phận, khi nhận được giấy mời, phản đối: “Vatican đâu có quyền gì trên thanh thiếu niên của chúng tôi!” Thị trưởng Rô-ma, lúc đó là một người cộng sản, đùng một cái rút lại mọi giấy phép: tham dự viên không còn được cắm lều trong công viên thành phố, không còn chỗ ở công cộng cho tham dự viên. Báo chí phản đối, phóng viên kết hợp với các hội bảo vệ môi sinh cảnh cáo viễn ảnh tan nát của các nơi công cộng như vườn hoa, công viên, quảng trường…

Dù vậy, đã có 300 ngàn người trẻ đáp lời mời Giáo chủ về dự lễ Lá tại công trường Phê-rô năm ấy. Thanh niên các nước khác ngoài nước Í về đông hơn dự tưởng. Thành công ngoài sức tưởng tượng. Trật tự. Sạch sẽ. Kỉ luật. Đạo đức. Hội đồng giáo dân gồng mình đổ sạch sức lực và tài chánh vào đại hội. Nhưng đã vô cùng vui và phấn chấn trước một giới trẻ nhiệt thành và quảng đại. Rồi, trước kì nghỉ hè năm đó, giáo chủ Gio-an Phao-lô lại ướm: “Năm tới UNO phát động Năm của giới trẻ. Có thể đây là cơ hội cho mình mời giới trẻ thế giới về lại Rô-ma một lần nữa không?

Hi. Cordes ớn lạnh khi nghe câu đó. Cứ tưởng tượng những công việc phải làm và thời gian phải cần cho việc tổ chức một đại hội, như kinh nghiệm của giáo hội Úc mới đây, thì mới hiểu được cái ớn lạnh của Hồng i. Phần chưa lại sức vì lần tổ chức trước, phần cũng chỉ còn có 6 tháng để chuẩn bị. Nhưng nghĩ tới niềm vui đầy sức sống của giới trẻ lần vừa rồi và tới nhiệm vụ vâng lời, cả Hội đồng lại nhận lãnh công tác trong lo âu. Tuy nhiên, lần này Hội đồng vớ được cây gậy vững chắc, đó là chị Chiara Lubich, người sáng lập phong trào Focolare (Tổ ấm). Chị và Phong trào nguyện sẵn sàng đứng ra chung vai cổ động và tổ chức. Thoát bớt nỗi lo. Một lần nữa, 250 ngàn bạn trẻ thế giới lại nô nức kéo về Rô-ma.

Từ đây, Hội đồng muốn tạm xếp lại trang giới trẻ. Phải để giờ, để lực, để tiền cho những lãnh vực công tác khác nữa chứ. Vào ngày thứ hai tuần lễ phục sinh, hồng i Cordes bỏ trốn (trốn thực sự!) về Đức, để mong đánh được một giấc cho lại sức. Và sáng chủ nhật phục sinh, ngài “thông công” nghi lễ phụng vụ ở công trường thánh Phê-rô trên màn ảnh truyền hình. Ngài say mê theo dõi bài giảng của vị Giáo chủ trẻ. Nhưng rồi, một đoạn trong đó làm ngài giật mình toát mồ hôi lạnh: “Chủ nhật vừa qua tôi đã gặp hàng trăm ngàn các bạn trẻ, và hình ảnh hân hoan tưng bừng của họ in đậm trong tâm trí tôi. Ước gì kinh nghiệm tuyệt vời này sẽ được tiếp tục trong tương lai, và đó sẽ là khởi điểm của Đại hội giới trẻ thế giới vào chủ nhật lễ lá…”  Giáo chủ Gio-an Phao-lô đã gặp được món đúng khẩu vị, và ngài từ đó đã đưa vào Giáo hội công giáo một món ăn mới. Một truyền thống khởi đầu, và với những cuộc gặp gỡ không chỉ hàng trăm ngàn mà đôi khi tới cả triệu người trẻ tham dự; cho tới nay, đó là cả một lịch sử thành công. Khởi đầu truyền thống đại hội như hiện nay đang tổ chức là từ Buenos Aires, Á-căn-đình năm 1987. Qua Tây-ban-nha, tới Hoa-kì, Âu châu, Á châu, rồi Úc châu. Cao điểm í nghĩa là cuộc gặp ở Paris (1997) và Rô-ma trong năm thánh 2000. Cao điểm lượng người là ở Phi-luật-tân với trên dưới 4 triệu tham dự viên.

Nhưng thành công mặt đời đó có dấy lên được thành công mặt đạo không? Nhiều người trả lời không. Họ bảo, ít nhất ở Âu châu, khả năng trời cho của giáo chủ Gio-an Phao-lô đã không xoay chuyển được tình hình, ngài đã không dấy lên được phong trào quay trở về với tôn giáo. Nhìn bề ngoài thì không sai. Suốt gần 30 năm thời Gio-an Phao-lô lòng đạo dân Âu vẫn đi xuống, tín hữu vẫn giảm. Nhưng người ta cũng đã quên hỏi, nếu không có Gio-an Phao-lô, thì sự thể đã ra sao? Lại nữa, chuyện tôn giáo cũng không phải là một con tính kinh tế, có thể thấy ngay được lỗ lời. Và chiều hướng trở về với tôn giáo, mà người ta đang nhận ra ở Âu châu ngày nay, phải chăng đã khởi đi từ một tiến trình từ nhiều chục năm nay? Thật ra, ngoài các cảm nghiệm cá nhân của những tham dự viên đại hội và những ơn ích họ nhận được ở đó, khó có ai trong chúng ta tiên đoán được kết quả chiều sâu của những cuộc đại hội giới trẻ vừa qua và cả trong tương lai.

Nói về cảm nghiệm cá nhân, bác sĩ tâm thần Manfred Luetz kể lại trong một cuốn sách của ông hai trường hợp xẩy ra trong đại hội giới trẻ thế giới tại Đức năm 2005:

Thánh lễ kết thúc do giáo chủ Biển-đức chủ tế được truyền hình phát đi năm châu bốn bể. Để việc thu phát hình kết quả, ban tổ chức đã cử một linh mục tới hỗ trợ người điều hợp việc thu phát hình trong suốt buổi lễ. Linh mục này có nhiệm vụ giải thích í nghĩa các động tác phụng vụ, hầu anh điều hợp - chẳng hiểu gì về Ki-tô giáo cả - có thể điều khiển các nhân viên thu hình một cách chuyên nghiệp. Đại hội xong, anh điều hợp gọi tới vị linh mục và xin được gia nhập Giáo hội. Cuộc đời anh đã hoàn toàn đổi hướng, chỉ vì anh đã hiểu được í nghĩa của phụng vụ công giáo.

Cũng trong đại hội trên, một số thanh nữ người In-đô-nê-si-a được phân bổ chỗ ở trong khu phố ăn chơi của Köln. Mỗi sáng và mỗi chiều tối họ đi ngang qua một cô gái điếm, thích thú kể cho cô này nghe về những sinh hoạt trong ngày và về niềm tin của họ. Hôm cuối, họ tới chào tạm biệt cô gái làng chơi và bất chợt cả đám bật khóc. Trước thắc mắc của cô gái, họ thố lộ: Họ hết sức buồn, vì cô đã không có cơ hội để hiểu được hạnh phúc của niềm tin vào Chúa. Sau đó, chính cô gái đã gọi tới một linh mục, kể cho ông hay, đấy là lần đầu tiên trong đời cô thấy người khác khóc cho thân phận mình. Và cô hỏi vị linh mục, làm sao để có thể trở thành một ki-tô hữu…

Các đại hội cho tới nay đã không tạo ra được một thứ phong trào gì cả. Nhưng ơn ích của chúng đối với cá nhân thì muôn hình muôn vẻ, khó biết được và có lẽ không kể xiết[1].

 

Chuyện Cổ Tích… TÂY

Đọc theo Chuyện Thời Sự… TA

 

Trên đây là câu chuyện của Rô-ma liên quan tới Đức.

Và bây giờ là một câu chuyện cổ của Đức có chút liên quan tới… ta. Lần trước tôi giới thiệu với quý vị độc giả một nét quan trọng về tâm thức người Đức. Hiểu được tâm thức đó ta mới hiểu được phần nào các hành động và thái độ hiện nay của dân tộc này về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, nhân đạo... Nay là dịp hè, thời gian cho chút nghỉ ngơi, tôi muốn cùng quý vị đọc một câu chuyện cổ tích của dân Đức để thư giãn đầu óc, quên đi cái không khí ngột ngạt của tháng qua. Mà nói đến cổ tích hay thần thoại Đức, ít ai lại không biết anh em nhà Grimm (Jakob Grimm 1785-1863; Wilhelm Grimm 1786-1859). Hai anh em nhà này bố mẹ cho đi học luật để mong dễ kiếm cơm giúp gia đình, nhưng học xong thì lại rủ nhau làm chuyện trời ơi, là đi gom nhặt mấy cái chuyện thần thoại cổ tích để in thành sách chơi. Không những anh em Grimm là người đầu tiên góp nhặt cổ tích, họ còn đưa ra những phương pháp thu nhận, phân tích, khảo sát một cách khoa học về môn này, khiến về sau người ta coi hai ông như là cha đẻ của nghành cổ tích học. Trong kho tàng cổ tích Đức, có chuyện Cô Bé Mũ Đỏ (Rotkäpchen) đọc nghe như… thật. Chuyện kể như vầy:

Ngày xửa ngày xưa có một cô bé rất xinh, rất được mọi người yêu quý. Bà ngoại là người cưng cháu nhất. Bà muốn tặng quà cho cháu, nhưng nhà nghèo chẳng có gì ngoài một chiếc mũ quý, bà đành cho cháu luôn. Mũ là một miếng vải đỏ, giữa có cái chóp nhỏ, gần giống như cái mà một giống dân Á đông nào đó gọi là mũ du-dêu. Từ ngày được mũ, cô bé thích quá đội suốt ngày đêm, vì thế mọi người gọi em là cô bé Mũ Đỏ. Ngày nọ, mẹ trao một ít bánh rượu cho Mũ Đỏ và nói: Chiều nay con mang hai thứ này cho bà ngoại; Ngoại đang đau, yếu lắm; trên đường, nhớ đừng nhởn nhơ vui chơi với đám con nít có tiền, kẻo bỏ nhà lâu mẹ trông; tới thì phải hỏi thăm săn sóc Bà, nhất là không được tìm cách lấy tiền Bà… Mũ Đỏ dạ vang, hứa với mẹ đủ thứ, rồi lên đường. Nhà Ngoại ở tận mãi trong rừng, cách xa làng cả dặm đường.

Mũ Đỏ vào tới rừng thì gặp chú Cáo đã thành tinh, mà thợ săn gọi là Hồ tinh. Cô bé đâu hay sự hiểm ác của loài vật này. “Chào Mũ Đỏ, cháu đi đâu đấy”. “Cháu tới thăm bà Ngoại, đưa cho Bà ít bánh và rượu, Bà đang đau nặng”. “Nhà Ngoại cháu ở đâu”. “Cách đây xa lắm, còn hơn nửa dặm, bên cạnh cái lầu năm góc đó”. Hồ tinh nuốt nước bọt: “Chà thịt con bé này ngon quá, hẳn phải mềm hơn xương thịt cái bà già kia, mà mình phải thật khôn khéo mới đớp được cả hai”. Nghĩ thế, Hồ tinh đi theo dụ khị Mũ Đỏ một đoạn đường, chỉ cho bé xem nào những hoa thơm cỏ lạ, nào hang bắc-bó, nào suối lê-nin, nào tiếng muôn chim líu lo trên cây. Mũ Đỏ tưởng như đang lạc vào thiên đường xã-nghĩa. Bé chợt nghĩ, mình phải tranh thủ hái cho đủ 36 thứ hoa làm thành một bó tặng Ngoại. Thế là Mũ Đỏ tiến sâu vào rừng, đến ngắm từng cánh hoa, chọn từng bông một để hái. Trong khi đó Hồ tinh biến mất, nó phóng một mạch như bay thẳng tới nhà Ngoại.

Hồ tinh lần theo lầu năm góc tới nhà bà: “Ngoại ơi, mở cửa cho cháu”. “Ai đó”. “Cháu Mũ Đỏ đây, cháu mang bánh rượu tới cho Bà”. “Bà không dậy được, cứ nhấn vào chốt cửa mà vào”. Hồ tinh mở được cửa, phóng ngay tới giường và nuốt trửng bà già. Rồi leo lên giường, lấy mũ bà chụp xuống tới mắt, giật tấm màn cửa màu đỏ ối cuốn vội vào mình.

Mũ Đỏ hái được một ôm hoa nặng, sực nhớ tới Bà, tiếp tục lên đường. Tới nhà Bà, bé có cảm giác là lạ không giống những lần trước, ơn ớn khi thấy cửa mở, đâu đó phảng phất một mùi gì kì lạ. “Chào Bà, cháu tới thăm Bà đây”. Không có tiếng đáp lại. Bé tiến tới gần giường người bệnh, ngờ ngợ nhìn chiếc mũ kéo tận mắt Bà: “Này Ngoại, tại sao tai Ngoại lại to thế”. “Để dễ nghe ngóng chuyện nhân dân”. “Này Ngoại, sao mắt Bà lại to thế”. “Để nhìn thấu được cây kim sợi chỉ của nhân dân”. “Này Ngoại, sao tay của Bà dài và gân thế”. “Để dễ cầm búa liềm mà phạng đám dân khiếu kiện”. “Này Ngoại, chăn vàng Bà vẫn đắp ở đâu, mà giờ lại cuốn chăn đỏ ghê như thế”. “Để che bớt lông lá đen đủi”.  “Này Ngoại, sao miệng Bà lớn dễ sợ như thế”. “Để dễ lừa người khác và dễ nuốt cháu”. Vừa nói, Hồ tinh vung dậy, nuốt trửng luôn Mũ Đỏ.

Ăn no, Hồ tinh vác bụng lên giường nằm đánh một giấc, ngáy ran như sấm. Chợt lúc đó có hai người thợ săn đi qua. Họ nghe thấy tiếng ngáy lạ, ghé vào xem cho biết cơ sự, luôn tiện thăm bà già. Họ tới giường, thấy chú Cáo đang ễnh bụng ngáy. “À, đây rồi”, một thợ săn vụt la lên, “bọn tao từ bao ngày đã khổ công tìm mày”. Nói rồi, anh dơ súng lên, định làm một phát, thì người thợ săn kia kịp cản lại: “Khoan! Có lẽ nó vừa nuốt bà già, hi vọng còn cứu bà kịp”. Thế là cả hai lấy dao mổ bụng Hồ tinh đang ngủ say. Vừa rạch được vài lát, họ thấy cái mũ đỏ, thêm mấy lát, Mũ Đỏ nhảy phăng khỏi bụng Cáo. Hoàng hồn. Rồi họ lôi được bà già ra, chỉ còn hoi hóp thở. Mũ Đỏ nhanh nhẩu đi nhặt khiêng những hòn đá quanh nhà (nào là đá Nhân Văn Giai Phẩm, đá Cải cách ruộng đất, đá Mậu thân, đá Cải tạo, đá Bán bãi vượt biên, đá buôn phụ nữ, phát mãi lao động, đá bán đất, dâng biển…) nhét vào bụng Hồ tinh và may lại. Thức giấc, Cáo thấy thợ săn, hoảng sợ tung mình nhảy trốn. Nhưng vừa tung lên thì rớt xuống ngay, vì đá quá nặng. Chết không kịp ngáp.

Mọi người đều hả hê. Thợ săn có được bộ da Hồ tinh. Bà ngoại ăn hết bánh uống hết rượu cháu mang tới. Mũ Đỏ giờ đây nhận ra Hồ tinh, quyết từ nay không bao giờ để nó dụ nữa, bé giờ đây biết phân biệt được chăn vàng màn đỏ, áo vàng áo đỏ, không phải màu nào cũng giống i chang màu nào.

 

Cầu chúc độc giả tháng hè còn lại được sáng mắt sáng lòng như hai bà cháu Mũ Đỏ.

Augsburg, 11.08-08



[1] Mời đọc thêm chương XI “Gioan Phaolô II  Trong Lòng Giới Trẻ Thế Giới“ (trang 199 Phần Ba) và chương XXV “Sau JMJ 97“ (trang 389 Phần Phụ Lục) trong tác phẩm biên khảo “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhân Thời Đại“ của Trần Phong Vũ do tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành tại HK tháng 4-2005 và tái bản một năm sau đó.