Ngày Xuân, lạm bàn về
Dân Ca QUAN HỌ BẮC NINH
Trần Phong Vu

Vài lời trần tình

Kẻ mạo muội viết bài này vốn không phải là người sinh trưởng ở Bắc Ninh, nơi được mệnh danh là quê hương dân ca Quan Họ, là chiếc nôi của văn hóa Việt Nam, lại đang sống xa môi trường đất nước, mọi phương tiện tra cứu, đối chiếu đều khó khăn. Vì thế, người viết chỉ dám "lạm bàn" để nhân dịp Xuân về, mong gửi tới độc giả Diễn Đàn vài suy nghĩ mộc mạc, nông cạn (và ít nhiều cũng có thể mang tính võ đoán) về một mảng dân ca đã trở thành một bộ môn nghệ thuật lưu truyền trong đại chúng Việt Nam.

Nó chưa phải là một bài viết nghiêm túc, và càng không phải là một tài liệu nghiên cứu về dân ca Quan Họ Bắc Ninh. Có chăng chỉ là một vài nét chấm phá dựa trên trí nhớ đã mỏi mòn vì tuổi tác, vì năm tháng và một vài văn liệu có được trong tầm tay. Ước mong quý thức giả và bà con đồng hương Bắc Ninh thông cảm, rộng lượng tha thứ và vui lòng chỉ giáo cho những bất toàn, thiếu sót.

I.- Dân ca "Quan Họ" là gì?

Theo Vũ Ngọc Phan trong "Mấy Ý Kiến Về Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh" thì lối hát này xuất hiện lần đầu tiên ở những vùng trù phú nhất của đất Kinh Bắc, tức miền đất thuộc mấy huyện Tiên Du, Võ Giàng, Bắc Ninh ngày này. Đây là những địa phương trong bao nhiêu thế kỷ qua đã nổi tiếng về văn hóa, học thuật, từng cung ứng cho đất nước nhiều bậc đại khoa cùng những văn nhân, nghệ sĩ tài danh. Về phía nữ giới, đây cũng là nơi quy tụ những bậc nữ lưu lừng lẫy một thời trong văn chương, thi phú cũng như trong lịch sử. Là người Việt Nam có lẽ không mấy ai không biết tới phương danh bà Đoàn Thị Điểm, quán làng Hiến Phạm huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh, người đã để lại cho hậu thế dịch phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc từ nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn. Bản dịch của nữ sĩ họ Đoàn được coi như một tuyệt phẩm nói lên tâm tình của người phụ nữ Việt Nam trong thời chinh chiến. Người ta cũng khó quên được những bậc nữ lưu tài sắc vẹn toàn được lưu danh sử sách như Nguyên Phi Ỷ Lan, cô gái làng Thổ Lỗi (tức Siêu Loại sau này) từng được vua Lý Thánh Tông say đắm tuyển vào cung và trở thành mẫu hậu của vua Lý Nhân Tông. Đời sau cũng nhắc nhiều tới người thiếu nữ tài hoa quán làng Phù Đổng (tức làng Gióng), huyện Tiên Du, khuê danh Đặng Thị Huệ, tục gọi là Bà Chúa Chè, người được Chúa Trịnh Sâm yêu mến tuyển vào phủ Chúa phong tặng danh hiệu Tuyên Phi.

Để trả lời câu hỏi Dân Ca Quan Họ là gì, trước hết chúng ta có thể nói mà không sợ ngoa ngôn là thể điệu ca xướng này sẽ không có nếu Bắc Ninh không phải là phần đất được Thượng Đế cưng chiều ban cho không ít những cô gái vừa duyên dáng, vừa có nhan sắc hơn người lại có tài ca hát tự bẩm sinh. Vì thế mới có câu:

Trai Cầu Vồng, Yên Thế.

Gái Nội Duệ, Cầu Lim

Vẫn theo tác giả Vũ Ngọc Phan trong bài viết kể trên thì:

"Đất Kinh Bắc xưa có tục phụ nữ thường làm việc trong nhà: canh cửi, thêu thùa, đan lát. Do đó, phần đông con gái Bắc Ninh thời xưa chân tay mềm mại và rất khéo. Trong những việc làm ngày đêm trong nhà như vậy, các cô hay ngâm thơ, ca hát, và do luôn luôn ôn luyện nên hát rất hay. Từ chỗ thuộc nhiều thơ văn, lại hay ngâm nga, ca hát, nên những cô gái như kiểu Ỷ Lan thì xứ Kinh Bắc rất nhiều…. Truyện cũ còn ghi lại: vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà không con, đi cầu tự qua làng Thổ Lội, người đi xem đứng đầy đường, riêng có một cô gái nhan sắc tươi giòn, tay cầm liềm hái, vẫn đứng tựa bên khóm lan ở phía xa, không ra xem, mà cất riếng hát:

Tay cầm bán nguyệt xênh xang,

Một trăm thức cỏ lai hàng tay ta…

Một cận thần đem chuyện tâu cho vua biết. Cô gái làng Thổ Lội kia được tuyển vào cung và được phong làm Ỷ Lan phu nhân (lấy nghĩa là tựa mình bên khóm lan). Sau Ỷ Lan phu nhân sinh ra Lý Nhân Tông được phong làm Ỷ Lan Thái Phi….

Về những cô gái của quê hương Quan Họ, tôi nói đến Ỷ Lan, người thôn nữ ở Siêu Loại kia được tuyển vào cung, vì cách đây trên mười năm, tìm về nguồn gốc Quan Họ, đã có người cho rằng khi hát câu "Tay cầm bán nguyệt xênh xang" trên này, Ỷ Lan đã hát một điệu hát rất hấp dẫn, về sau trai gái làng Siêu Loại hay hát điệu ấy, cho là một điệu kết mối lương duyên và gọi là điệu "hát Quan Họ", lấy cớ là do điệu hát hấp dẫn mà quan quân phải dừng lại nghe."

(Hết trích. Những chữ tô đậm và gạch dưới do người viết)

Cách hiểu trên đây dựa trên lối cắt nghĩa: "Quan" chỉ quan quyền, quân lính, "Họ" tiếng người nông phu ở miền Bắc ngày xưa dùng trong khi cày bừa để ra lệnh cho con trâu, con bò dừng lại (tục ngữ có câu: Sáng tai họ, điếc tai cày, ý chỉ kẻ lười biếng, khi nghe lệnh ngưng làm việc thì tai rất thính, nghe rõ ngay, nhưng khi có lệnh làm việc thì làm như tai điếc không nghe thấy).

Sau khi nhắc lại giả thuyết trên, nhà văn Vũ Ngọc Phan nêu nhận xét riêng của ông: "Nhưng thật ra tiếng "họ" chỉ là một tiếng người ta gọi trâu bò dừng lại, chứ đâu có phải để dùng cho người. Theo tôi, giả thuyết này không thể dùng được"

Để thay cho giả thuyết mà ông không chấp nhận vừa kể, nhà văn họ Vũ căn cứ vào nhiều truyền thuyết khác nhau để chứng minh nguồn gốc dân ca Quan Họ Bắc Ninh và tại sao người ta lại gọi lối hát này là "Quan Họ"? Tổng hợp nội dung những truyền thuyết ấy, chúng ta rút ra được mấy điểm cốt lõi sau đây:

1.- Trong thời xa xưa, hàng năm cứ vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch dân làng Tam Sơn (Đông Ngàn, Từ Sơn) cùng với dân làng Lũng Giang (tức làng Lim, Tiên Du) mở hội hát hò với sự tham dự nồng nhiệt của trai gái đôi bên, và được sự chứng kiến của các tiên chỉ, những bậc vị vọng hai làng.

2.- Dần dà phong tục hội hè hát xướng như thế lan tới nhiều địa phương quanh vùng, trong đó có châu Cổ Pháp, quê hương của các vua triều Lý. (Được biết Cổ Pháp vốn thuộc Từ Sơn, Tiên Du, Bắc Ninh ngày nay)

3.- Dưới triều đại nhà Lý các thôn Du Lâm, Danh Lâm, Hội Phù, Nội Duệ có đào những kinh lạch để ngự thuyền của nhà vua có thể từ sông Đuống đi vào. Mỗi khi vua về thăm quê hương Cổ Pháp thì những thành phần thuộc hậu duệ nhà Lý sinh sống tại đây lại được vời đến để múa hát cho vua thưởng lãm. Những người này được dân địa phương cung kính kêu là "Quan Viên Họ Lý".

5.- Theo Khâm Định Việt Sử, năm Thuận Thiên thứ 15 (1025) vua Lý Thái Tổ đã có hảo ý đặt quan chức cho giới ca xướng. Đặc biệt thời này, theo Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ, một nữ nghệ nhân họ Đào nổi tiếng hát hay đã được nhà vua ban nhiều ân thưởng trọng hậu.

Như vậy, chúng ta có thể tạm hiểu Dân Ca Quan Họ là một loại xướng ca bình dân nhưng mang ý nghĩa và nội dung đặc biệt, một thứ đặc sản của Bắc Ninh, vùng đất một thời được mệnh danh là Kinh Đô đất Bắc (Kinh Bắc). Tự thân cách gọi tên này (Quan Họ) mang một ý nghĩa trân trọng được "họ hàng, làng nước và cả các giới quan quyền" tham gia và thưởng thức.

Trong bài "Lim Quan Ho" viết bằng Anh ngữ trên NET, người ta thấy cách giải đáp về nguồn gốc lối Hát "Quan Họ" có phần giản dị hơn: "Originally Hát Quan Họ were exchange songs between two mandarins’ families" –Trao đổi hát xướng giữa hai gia đình nhà Quan. Vẫn theo tác giả thì Hát Quan Họ bắt đầu xuất hiện khoảng thế kỷ thứ 13. Khởi sự là những trao đổi ca xướng giữa trai gái hai gia đình quan cách. Dần dà nó được lan truyền đến giới bình dân miền bắc… và sau những buổi tụ tập hát Quan Họ, nhiều cặp trai gái đã thành đôi lứa*. Trải qua nhiều thế kỷ, lối hát này đã trở thành một thể loại dân ca quan trọng nhất của người Việt Nam "Originally Hát Quan Họ were exchange songs between two mandarins’ families. Gradually, it spread out and became popular among the northern people… and many marriages were formed at these get-togethers. After centuries, hát quan họ became the most significant vietnamese folk-song type".

Tưởng cũng cần nói thêm để tránh ngộ nhận: tất cả những ghi nhận trên đây chỉ là những suy diễn. Nó có thể đúng –đúng bao nhiêu? – Và cũng có thể sai! – Sai ra sao?. Vì thế, người viết mong mỏi sẽ được các bậc trí giả từng để tâm nghiên cứu về dân ca Quan Họ Bắc Ninh soi sáng.

* Theo tác giả Đặng Văn Lung (ĐVL) trong "Quan Họ - nguồn gốc và quá trình phát tiển" được in trong tác phẩm "Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam" -ấn hành trong nước-, từ trang 178 đến trang 204 gồm nhiều tác giả thì:

"Bạn Quan Họ không lấy nhau. Nhiều người nghiên cứu Quan Họ cho rằng đây là một đặc điểm nổi bật của dân ca Quan Họ. Thực ra chỉ có tục này khi có dính với tục "kết chạ" (chú thích của người viêt: vẫn theo ĐVL thì "kết chạ" là hai làng Quan Họ kết tình thân với nhau, cũng từ đấy có tục "ăn chạ") vì những làng kết chạ với nhau thì tuyệt đối không cho trai gái hai làng lấy nhau. Bọn Quan Họ nào nằm trong các làng đã kết chạ với nhau thì không lấy nhau. Bọn Quan Họ nào không nằm trong quy ước Kết chạ thì có thể lấy nhau. Tuy nhiên việc đó cũng là điều hạn chế" II.- "Làng" Quan Họ, tổ chức và lưu truyền:

Vẫn theo tác giả ĐVL thì một đơn vị làng được kể là "làng" Quan Họ phải hội đủ hai điều kiện: (a) Có bọn Quan Họ đi kết bạn và hát với Quan Họ nơi khác liên tục từ hai, ba lớp tuổi trở lên (b) Được các Quan Họ nơi khác thừa nhận.

Dựa vào tiêu chuẩn này tính đến năm 1945, Bắc Ninh có cả thảy 49 làng Quan Họ, hầu hết quy tụ trong các huyện Tiên Sơn (17 làng), Yên Phong (17 làng), Việt Yên (15 làng) và thị xã Bắc Ninh (10 làng). Căn cứ vào địa lý tại ba huyện kể trên, tất cả những làng Quan Họ đều quây quần chung quanh thị xã Bắc Ninh.

Về mặt tổ chức, làng Quan Họ (a) có ông (bà) Trùm chịu trách nhiệm chung trong đội và anh chị em trong bọn có tục gọi tên theo thứ tự hai, ba, bốn, năm… Về sinh hoạt: hát đối giọng, hát đôi… hát có lề lối, có định kỳ, định điểm…; (b) dân ca ấy có đặc điểm về âm nhạc và lời ca: nếu hát lên thì sẽ được nhiều người công nhận là Quan Họ (tiêu chuẩn này là xem trọng sự tự nhận, sự xác nhận của nghệ nhân và dân chúng vùng Bắc Ninh). Theo những tiêu chuẩn vừa nêu thì sẽ thấy sinh hoạt Quan Họ gắn chặt với làng xóm. Mỗi làng có thể có nhiều bọn Quan Họ, nhưng tất cà các bọn đều chịu một sự phân công tự nhiên nhằm tạo cho sinh khí sinh hoạt văn hóa phục vụ một mục đích nhất định của làng. Đó là việc cùng nhau tổ chức ngày hội cầu vui, cầu may, cầu thịnh hàng năm của làng cho rầm rộ, sôi nổi với niềm hy vọng năm mới sẽ làm ăn tốt hơn năm cũ….

Nói tới ngày hội trong làng (Hội Lim, Hội Ó –tức hội làng Ó, tên chữ là Xuân Ổ…) thường khai diễn từ ngày mồng 4 Tết đến một số ngày trong tháng 2 (một hoặc nhiều làng chọn một ngày làm ngày hội của làng mình. Thí dụ Hội Lim mở vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch, trùng với ngày Hội Chợ đầu năm. Vì ngày 12 tháng Giêng lại là hội đình của 6 làng chung quanh vùng Lim, nên không khí náo nức của hội đình chuyển ngay cho Hội Lim một ngày sau đó). Dĩ nhiên, bên cạnh việc hát Quan Họ còn có nhiều trò vui khác như đô vật, kéo co, cướp cầu, đánh đu… hoặc những sinh hoạt mang tính văn hóa như thi thả chim, thi hát chèo, hát tuồng, đố chữ, cờ tướng…

Những buổi hát Quan Họ có thể diễn ra tại đình làng, trong sân chùa, trong nhà hay trên những ngọn đồi giữa cảnh thiên nhiên. Nếu là ngày Hội Lim thì về khuya có ánh trăng chứng giám vì là ngày 13 tháng Giêng.

Để có người tiếp nối, khi trong một bọn Quan Họ có người vì lớn tuổi hoặc vì một lý do nào đó phải thôi thì ông (hay bà) Trùm sẽ tìm những thiếu niên hoặc thiếu nữ nhỏ tuổi trong làng kết nạp vào để làm quen với sinh hoạt Quan Họ, chờ ngày thay thế.

III.- Nội dung dân ca Quan Họ:

Giống các thể loại văn chương bình dân khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ, nội dung những bài ca xướng Quan Họ thường rất phong phú, súc tích. Khác chăng là dân ca Quan Họ ít chú ý tới việc phổ biến kinh nghiệm đồng áng hay những bài học về luân lý, đạo đức. Đặc điểm của bộ môn ca diễn xuất phát từ Bắc Ninh này là nội dung thường nghiêng về mặt giãi bày tình cảm trai gái, nhưng là một thứ tình cảm nhẹ nhàng, tế nhị.

Nhà nàng gần gũi hay xa?

Cách phủ, cách huyện hay là cách sông?

Xa xôi cách mấy quãng đồng?

Để anh bỏ việc, bỏ công đi tìm.

Tôi về người nhớ tôi không?

Tôi về tựa bóng đèn chong canh chầy

Tôi về trằn trọc khó khuây,

Đĩa dầu hao cạn, nước mắt đầy năm canh!

Đấy là cách tỏ tình kín, hở nhưng gói ghém tất cả tâm tình thiết tha, gắn bó và thái độ kiên trì, quyết liệt của những chàng trai thôn dã. Về phần người thiếu nữ, dù không khỏi mủi lòng trước tấm chân tình của chàng trai mới gặp, nàng vẫn khôn khéo buông lời đưa đẩy, không dứt khoát rút cầu, ngăn cánh nhạn đưa tin, trái lại còn kín đáo mở ra một cơ hội cho sự đâm bông kết trái của một mối tình thơ mộng vừa chớm nở.

Chàng buông vạt áo em ra,

Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa.

Chợ trưa rau sẽ héo đi,

Lấy gì nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

Bên cạnh những trao đổi trực tiếp là những trăn trở, băn khoăn, nhung nhớ của những cô gái và những chàng trai vừa mới gặp nhau đã phải lòng nhau, để đêm đêm đắm hồn vào vừng trăng sáng mà tưởng như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh.

Làm sao cho đến tiên cung,

Hỏi thăm ông Nguyệt để lòng làm sao?

Trăng suông sáng cả vườn đào,

Lòng đây nhớ đấy biết bao nhiêu tình!

Thà rằng chẳng biết cho xong,

Biết bao nhiêu, lại đau lòng bấy nhiêu!

Người về em dặn người rằng,

Đâu hơn thì lấy, đâu bằng đợi em

Bây giờ kết nghĩa châu trần

Xuân ai cũng có một lần mà thôi

Đã đành có chốn thì thôi

Đèo bòng chi nữa tội trời ai mang?

Từ khi đá biết tuổi vàng

Lòng càng thảm thiết, dạ càng ngẩn ngơ

Hoặc trường hợp những cặp uyên ương nửa đường gẫy gánh vì một nguyên nhân éo le nào đó, nhưng tự thâm tâm vẫn còn nặng lòng với mối tình xưa nghĩa cũ, khắc khoải, canh cánh chờ trông một ngày đẹp trời được "tái hồi Kim Trọng" để gương vỡ lại lành, để "đá nát" thành "vôi nồng" và để "chăn đơn gối chiếc" tìm lại được hơi ấm của hương lửa "ba sinh".

Vạn Vân có bến Thổ Hà,

Vạn Vân nấu rượu, Thổ Hà nung vôi.

Nghĩ rằng đá nát thì thôi,

Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.

Chăn đơn gối chiếc lạnh lùng,

Nửa thì tôi đắp, nửa phòng tình nhân.

Nhớ lời nguyện ước ba sinh,

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?

Nói chung, một số lớn những bài ca Quan Họ Bắc Ninh đều chứa đựng một nội dung thấm đượm tâm tình yêu thương, gắn bó, nhớ nhung giữa những chàng trai thanh, những cô gái lịch, tương tự như những câu hát trên đây. Bên cạnh đó là những bài ca nói lên đức tính hi sinh, luôn lo cho tương lai chồng con của những người phụ nữ thời xưa.

Khuyên chàng lo học, em vâng,

Việc trong gia thất, việc đồng mặc em.

Canh một dọn cửa dọn nhà,

Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm,

Canh tư sang đầu canh năm,

Thức chồng dậy học (em cũng) chẳng nằm làm chi.

Là những buổi hát giữa chốn đình trung, với sự hiện diện của những bậc vị vọng trong làng, trong tổng hay những bậc tai mắt ở chốn công môn, nên dù bài ca diễn tả nội dung nào chăng nữa thì những câu giáo đầu cũng thường gói ghém những ý tưởng mời gọi tâm tình yêu thương, đoàn kết, gắn bó, xóa bỏ hận thù giữa người với người. Dưới đây là những câu giáo đầu điển hình, mở màn cho những buổi hát Quan Họ Bắc Ninh.

Hôm nay tứ hải giao tình,

Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà

Cùng nhau gắn bó một hai,

Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông

Bây giờ sum họp trúc mai,

Tình chung một khắc, nghĩa dài nghìn năm…

Và từ những câu giáo đầu có nội dung tương tự mang tính xây dựng như thế, cuộc đối đáp giữa đôi bên trai gái đi vào những thanh âm, những lời lẽ chứa đựng những tình cảm khi ân cần mời mọc, khi say đắm, lả lơi, lúc buồn rầu, tuyệt vọng nhưng cũng có lúc sáng rực niềm vui.

IV.- Hình thức dân ca Quan Họ:

Xuất phát từ cốt lõi của kho tàng văn chương bình dân truyền khẩu cho nên hầu hết những bài dân ca Quan Họ Bắc Ninh đều làm theo thể lục bát (mở đầu một câu 6 chữ và tiếp theo một câu 8 chữ, cứ thế cho đến hết bài) hay song thất lục bát (mỗi đoạn hai câu 7 chữ tiếp theo là một câu 6 chữ và một câu 8 chữ). Dĩ nhiên khi các nghệ nhân hát lên, tùy theo thể điệu họ sẽ thêm vào những từ phụ, những tiếng đệm, những tiếng ê a, nhưng vẫn giữ vần điệu của thể thơ lục bát (hoặc song thất lục bát, hay biến thể). Để có một ý niệm rõ ràng, mời độc giả đọc lại những thí dụ trích dẫn trong phần nói về nội dung những bài dân ca Quan Họ trên đây.

Vì là dân ca (những bài hát dân gian) nên trong đó có những qui luật về âm sắc của bộ môn âm nhạc cổ dự phần. Do sự giới hạn của số trang trong bài viết không cho phép đi sâu vào chi tiết để thấy tính cách đa dạng của âm nhạc bộc lộ trong lối hát Quan Họ Bắc Ninh, trong bài viết ngắn này, chúng tôi chỉ tạm đơn cử hai thể điệu quen thuộc là Hát Ví và Hát Sa Mạc.

Như đã nói, khi hát các nghệ nhân tự ý chọn lựa những cung giọng, thể điệu thích hợp rồi từ đấy đưa vào câu hát những tiếng phụ, đệm, những tiếng láy, những tiếng ê a, ầu ơ…. tuy không mang ý nghĩa gì rõ rệt nhưng có tác dụng đem lại cho bài ca những âm thanh du dương, trầm bổng, trong khi từ căn bản vẫn không thoát ra ngoài ý tưởng chính gói ghém sẵn trong những câu ca dao hoặc những câu thơ 6, 8 nguyên thủy.

Mời độc giả đọc kỹ hai câu ca dao quen thuộc sau đây:

Ai đưa con sáo sang sông,

Để cho con sáo sổ lồng sáo bay

(Chỉ với hai câu, vỏn vẹn 14 từ, nhưng khi chuyển thành bài ca nó có thể kéo dài tùy theo tài năng của nghệ nhân khi thêm vào những tiếng phụ, tiếng đệm, tiếng láy, những tiếng ối, a tạo nên một chuỗi thanh âm khi trầm, khi bổng, khi ngưng đọng, khi ngân dài, làm ngây ngất lòng người thưởng ngoạn.)

Sau đó, chúng ta cùng nhau tạm quên thực tại, đưa trí tưởng tượng nương theo tiếng hát của nghệ nhân, nhẩm đọc những lời lẽ được người hát pha trộn vào giữa những từ, những câu của hai câu lục bát:

Ai đem con sáo

(A la túng phải tính

A la toán bản ban

Ố giàng giáng giang, ố giàng giang)

(Sáo) sang sông

(Tình bằng)

Ai đem con sáo sang sông

(ơ, ơ)

Ai đem con sáo sang sông

(ơ, ơ)

Để cho con sáo

(A la túng phải tính

A la toán bản ban,

Ố giàng giáng giang, Ố giáng giang)

Sổ lồng (con) sáo bay

(ơ, ơ)

Sổ lồng (con) sáo bay

(ơ, ơ)

Loại đi những tiếng phụ, đệm, những tiếng láy những tiếng ối, ơ (gần như vô nghĩa, thừa thãi) trong bài hát, chúng ta sẽ thấy nổi bật lên lời và ý hai câu lục bát được tô đậm trên đây.

Tiếp theo là một thí dụ khác lấy căn bản là bài Làm sao cho đến tiên cung.

Khi chuyển vào buổi hát Quan Họ, bài này sẽ được nghệ nhân trình bày như sau:

Sao đ྿n tiên cung

(Bạn tình ơi!

Ấy mấy mong)

Làm sao cho đến tiên cung

Hỏi thăm (á là thăm) ông nguyệt để

lòng làm sao?

(Ấy mấy sáng) trăng suông

(Bạn tình ơi!

(Ấy mấy sáng) trăng suông (là suông là)

sáng cả vườn đào

Lòng đây (là đây) nhớ đấy

(đã) biết bao nhiêu tình

(ơ, ơ Bạn tình ơi!)

V.- Hình ảnh thuyền, đò, bến nước trong dân ca Quan Họ:

Vẫn theo sự phân tích của nhiều tác giả thời tiền chiến, trong đó có Vũ Ngọc Phan thì trong số 500 bài dân ca Quan Họ, người ta đếm được cả thảy ngót 100 bài trong đó nói đến thuyền bè, bến nước. Điều này phù hợp với những nét đặc trưng trong sinh hoạt nhân gian và trong văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Thử nêu lên một vài chứng tích:

- Trên hầu hết các dụng cụ đồ đá, nhất là trên các mặt trống đồng khai quật được đều có khắc họa trang trí những hình thuyền.

- Tại nhiều địa phương, Bắc, Trung cũng như Nam, trong thuở thanh bình đều có những ngày hội đua hoặc bơi thuyền và thường được dân chúng tham gia nồng nhiệt.

- Đạo ông bà, tín ngưỡng nhân gian đều lấy hình ảnh con thuyền làm vật chỉ linh hồn người quá cố đi gặp tổ tiên bên kia thế giới. Riêng nhà Phật còn dùng thuyền làm phương tiện tiễn đưa linh hồn ra khỏi vòng tục lụy, lên chốn Niết Bàn (thuyền Bát Nhã).

- Nhiều tên gọi trong cổ nhạc cũng liên hệ tới thuyền, bến đò, mái chèo, như: hát Chèo, hò Đò Dọc, hò Đò Ngang, Dậm, hò Mái Nhì, hò Mái Đẩy v.v…

Dưới đây là một số câu làm thí dụ:

* Thuyền tôi đậu bến sông Dâu,

Buôn chè Mạn hảo tháng sau mới về…

* Thuyền thúng là thuyền thúng ơi,

Có về bên ấy cho tôi về cùng…

* Thuyền tôi chở lưới, chở cau,

Thuyền đâu mà chở hàm râu ông già…

* Thuyền buôn lái chở đi đâu

Có thương đến kẻ hái dâu một mình…

* Thuyền chài, thuyền lái, thuyền câu,

Biết thuyền nhân ngãi đi đâu mà tìm?…

* Thuyền ơi có nhớ bến chăng,

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

* Ngồi tựa mạn thuyền

Trăng in mặt nước

Càng nhìn non nước càng xinh

Sơn thủy hữu tình

Thơ ngắm ngoài lái,

Rượu bình giải trí trong khoang

Tay dạo năm cung đàn

* Thuyền rời nhưng bến chẳng rời

Bán buôn là nghĩa, trọn đời có nhau…

* Thuyền rồng bất ngãi bỏ trôi

Đò ngang có ngãi, ta ngồi đò ngang…

* Lệnh đênh ba chiếc thuyền kề

Chiếc ra Hànội, chiếc về sông Dâu

Vì tằm em phải chạy dâu,

Vì người lịch sự, em ngồi rầu bên nương…

* Yêu nhau giữ lấy lời nguyền

Xin đừng xẻ ván, bán thuyền làm hai!…

* Chén son để cạnh mạn thuyền,

Chén son chưa cạn, lời nguyền chưa phai…

VI.- Cuộc gặp gỡ giữa dân ca Quan Họ & văn chương bác học:

Một đặc điểm cho thấy tác giả những bài dân ca Quan Họ là những người có căn bản học vấn hay ít nữa cũng là những người năng đọc sách, có khiếu văn thơ: giữa những vần lục bát, song thất lục bát hoặc biến thể, khách thưởng ngoạn bắt gặp rất nhiều những câu "lẩy" hoặc những câu trích nguyên văn trong tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du. Lý giải cho sự kiện này, nhiều người cho rằng đại đa số những chàng trai và những cô gái Bắc Ninh có tài có sắc trong xã hội xưa đều thuộc lòng truyện Kiều, nếu không từ câu đầu đến câu cuối thì cũng thuộc những đoạn quan trọng. Trước hết vì thói quen và vì niềm say mê ca hát. Thứ đến vì Tố Như tiên sinh, tác giả Đoạn Trường Tân Thanh vốn là con trai của bà Trần Thị Thấn quê quán Bắc Ninh. Do niềm tự hào là có liên hệ gần xa với cha đẻ của đệ nhất thi phẩm từng được người đời sau xưng tụng là "vô tiền khoáng hậu" này, nên nếu có những chàng trai thanh nhã, những cô gái lịch lãm đất Bắc Ninh qua các thời đại thấu hiểu truyện Kiều, học thuộc lòng truyện Kiều cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên.

Khởi đầu là những câu đố liên hệ tới văn chương chữ nghĩa trong truyện Kiều.

* Truyện Kiều anh thuộc đã làu,

Đố anh kể được một câu năm (chữ) "này"

(Hoặc: Đố anh kể được một câu năm người)

* Truyện Kiều nàng đã học thông

"Trăm năm tạc một chữ đồng" với ai?

Tiếp theo là những đoạn, những câu trong truyện Kiều được tách ra (lẩy) để ghép vào những vần ca dao có sẵn hay những đoạn lục bát, song thất lục bát hoặc biến thể do người hát tự biên tự diễn, miễn sao phù hợp với cảnh, tình trong cuộc chơi.

Bây giờ tình mới gặp tình,

Khác nào Kim Trọng, Thanh Minh gặp Kiều

Tiện đây hỏi một hai điều

Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Yêu ai nên mệt chẳng màng đến xuân

Tưởng rằng đá nát thì thôi,

Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng

Chăn đơn gối chiếc lạnh lùng

Nửa thì tôi đắp, nửa phòng tình nhân

Nhớ lời nguyện ước ba sinh

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?

Khi về hỏi liễu Chương Đài

Đêm qua gió mát trăng thanh

Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi

Ai về nhắn Liễu Chương Đài

Cành xuân đã để cho ai vin cành

Đã đành tác hợp cơ trời

Có trời nhưng cũng có người mới nên

Muốn cho đông liễu tây đào,

Lòng đây lòng đấy biết bao nhiêu tình

Nhớ lời nguyện ước ba sinh

Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?

Trong nhiều trường hợp, người hát có thể trích nguyên văn một đoạn trong Kiều, đặc biệt là những đoạn diễn tả tâm tình lâm ly ai oán của người trong cuộc rồi sẵn trớn dẫn vào ý tưởng riêng tư muốn diễn tả.

Thí dụ như đoạn sau đây:

Ngọn đèn khi tỏ khi mờ

Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu

Khi tựa gối, khi cúi đầu

Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày

Rằng hay thì thực là hay

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

Lựa chi những khúc tiêu tao,

Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người.

Bây giờ nghe tiếng em cười

Trong anh vang vọng tiếng đời quạnh hiu!

Đàn ai gẩy khúc tương tư?

Bên cạnh việc lẩy Kiều, trích đoạn trong Kiều, dân ca Quan Họ Bắc Ninh cũng không thiếu những câu, những đoạn rút ra từ những tác phẩm văn nôm khác như Tống Trân Cúc Hoa, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Nữ Tú Tài, Sơ Kính Tân Trang v.v… Tham dự những buổi hát Quan Họ, khách thưởng ngoạn thường bắt gặp những câu quen thuộc sau đây:

Trai thì trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh làm câu sửa mình

(Lục Vân Tiên)

Ngại ngùng một bước một xa

Một lời trân trọng châu sa hai hàng

Buộc yên quẩy gánh vội vàng

Hạnh Nguyên nàng phải đi sang cống Hồ

(Nhị Độ Mai)

Chim bay sa xuống học đường

Từ Trung nom thấy vội vàng ra xem

Tên còn mắc ở đầu chim

Vô tình nào biết rằng tên ai đề

Tuấn Khanh vội trở ra về

Từ Trung, Nhi Soạn đề huề xem thư

(Nữ Tú Tài)

Lòng tôi thương xót vội vàng

Cúc Hoa chết mệt vì chàng Tống Trân

(Tống Trân Cúc Hoa)

Bốn chúng tôi quyến bạn yên hà

Say sưa đồng quyến la đà xuân phong

(Sơ Kính Tân Trang)

Đọc và suy cứu sâu xa về giá trị văn chương hàm ẩn trong những bài dân ca Quan Họ Bắc Ninh, chúng ta có thể tạm đồng ý với Vũ Ngọc Phan là trong rất nhiều bài hát, "rất khó phân biệt câu vận Kiều và câu sáng tác. Hình như các câu trênđều ăn nhập với nhau về ngôn ngữ thơ, về kết cấu thơ và cả về ý thơ. Cũng như Nguyễn Du, dân ca Quan Họ không ngại xử dụng những điển cố: Tấn Tần, Chương Đài, Nguyệt Lão, Lá Thắm, Chỉ Hồng v.v…; những ẩn dụ, tượng trưng: đá vàng, mây mưa, hoa nguyệt, trúc mai, tuyết sương, mận đào, lan huệ…; những khuôn mẫu: sen ngó đào tơ, kết ngãi Châu Trần, đá biết tuổi vàng, vương tơ lòng, tháo cũi xổ lồng… Để có được phong cách tương tự của Truyện Kiều, các nghệ nhân đã tỏ ra hết sức cố gắng học tập Truyện Kiều về mọi mặt. Các cách xử dụng Truyện Kiều nói trên, còn chứng minh thêm một điều là Truyện Kiều đã nhập tâm vào vốn liếng văn học dân gian như ca dao, tục ngữ. Nó làm thành cái kho nguyên liệu mà mọi người có thể dùng một cách thoải mái".

Trần Phong Vũ

Những ngày sửa soạn đón Xuân Kỷ Sửu (2009)

Nguồn hình: trong Google (Dan Ca Quan Ho)