Những ngày cuối năm
Từ cuộc bầu cử ở Mỹ suy tư về những nan đề Việt Nam
Trần Phong Vũ
Vài cột mốc đáng chú ý trong năm qua:
* Vấn đề lớn nhất của Mỹ và cũng là của thế giới: một người Mỹ gốc Phi Châu trở thành vị Tổng Thống thứ 44 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ - Một nếp nghĩ và thực hành tinh thần dân chủ.
* Khúc rẽ mang tính quyết định về một giải pháp cho đất nước: cao trào cầu nguyện cho tự do, công lý, nhân quyền và nhân phẩm Việt Nam của giáo dân Hànội - Chừng nào nhà nước CSVN mới vượt ra khỏi được chính mình?
I.- MỘT LỐI SỐNG DÂN CHỦ ĐÃ TRỞ THÀNH TRUYỀN THỐNG
A.- Khi cử tri Mỹ chọn một Tổng Thống da màu:
Sự kiện ông Barrack Obama, một người gốc Phi Châu được cử tri bầu chọn vào chức vụ cầm đầu cơ cấu hành pháp tối cao của nước Mỹ trong cuộc bầu cử hôm 04-11-2008 không chỉ gây sửng sốt cho người dân ở những quốc gia đang phát triển. Nó còn là một ngạc nhiên với cả những dân tộc văn minh phương tây, kể cả chính giới Hoa Kỳ. Đành rằng một đất nước có truyền thống tự do, dân chủ cao như nước Mỹ, trước hay sau, sớm hay muộn cũng sẽ có những nhân vật bước vào tòa Nhà Trắng là phụ nữ hay người da màu. Nhưng điều dư luận không ngờ là sự việc lại diễn ra sớm như thế. Hơn nửa thế kỷ trước, mục sư Martin Luther King đã bị ám sát chết chỉ vì lòng nhiệt thành và quyết tâm thực hiện giấc mơ tranh đấu cho quyền làm người của sắc dân da đen. Trước đó, Tổng Thống Abraham Lincoln, một trong mấy vị lãnh đạo vĩ đại nhất của nước Mỹ cũng đã gánh chịu chung một định mệnh khi ông nhất quyết trung thành với lý tưởng giải phóng những người nô lệ đến từ Phi Châu. Và từ đấy đến nay, chuyện kỳ thị đen trắng, dù người ta cố tình tránh né không muốn nghĩ hay nói tới, nhưng thực tế vẫn liên tiếp diễn ra từng ngày, từng giờ chung quanh đời sống của hơn hai trăm triệu người dân tại xứ sở đa chủng tộc này.
Cho nên kết quả cuộc bầu cử vị Tổng Thống thứ 44 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ hôm 04-11 vừa qua trước hết là một ngỡ ngàng, khó tưởng tượng được của chính tập thể sắc dân gốc Phi Châu ra đời và lớn lên tại Mỹ. Đây không phải là điều suy diễn hay "ăn ốc nói mò" mà là một thực chứng. Người viết muốn nói tới những giòng lệ, những tiếng khóc nghẹn ngào, lặng lẽ của những người da đen không phân biệt già trẻ, giới tính, địa vị được hàng trăm triệu người nhìn thấy trên các màn ảnh nhỏ do phương tiện truyền thông hiện đại truyền đi khắp thế giới lúc 12 giờ khuya, giờ miền đông Hoa Kỳ, hôm 04-11, khi ông Obama chính thức ngỏ lời với dân chúng Mỹ với tư cách vị Tổng Thống da màu đầu tiên vừa đắc cử trong nhiệm kỳ 4 năm tới.
Với các dân tộc Âu Châu, do mối hoài nghi và thành kiến khó gột rửa trong sớm chiều về một nước Mỹ bảo thủ (ít nữa là so với Âu Châu trên một vài lãnh vực), dù đặt nhiều kỳ vọng nơi ông Obama, người ta cũng chưa tin rằng con trai của một người xứ Kenya như ông lại có thể đạt được thắng lợi ngay trong keo đầu. Phản ứng nồng nhiệt đến gần như điên cuồng của báo giới cũng như chính giới tại hầu hết các quốc gia nằm ở phía tây bán cầu trước nguồn tin ông Barrack Obama thắng cử là một bằng chứng.
Đối với đa số chính khách Hoa Kỳ, nhất là những thành phần trong đảng Cộng Hòa, cách riêng những người trong ủy ban vận động tranh cử của liên danh McCain – Palin, ngay vào thời điểm chót, tuồng như rất ít người bị lung lạc trước những con số ghi nhận kết quả các cuộc thăm dò của cả chục cơ quan khác nhau, theo đó khuynh hướng ủng hộ của cử tri càng ngày càng ngả sang liên danh đảng Dân Chủ. Với thành kiến kinh niên về căn bệnh kỳ thị vẫn còn tiềm tàng trong máu đa số dân da trắng, bám víu vào một vài trường hợp "ngựa về ngược" trong quá khứ, người ta nuôi ảo tưởng là cử tri sẽ thay đổi ý định vào phút chót khi bước chân vào phòng đầu phiếu. Quan sát những lực sĩ Hoa Kỳ trong những cuộc tranh tài thể thao, thí dụ như môn chạy đua đường trường chẳng hạn, hẳn chúng ta đều phải công nhận tinh thần mã thượng và thái độ kiên trì của họ. Nhiều người biết mình thua cuộc từ lâu, dù hết sức mệt mỏi nhưng không bỏ cuộc, vẫn tiếp tục chạy tới đích. Trong cuộc chạy đua vào tòa Nhà Trắng vừa qua, hẳn ông McCain cũng không có ngoại lệ. Nhưng nhìn vào cung cách làm việc cật lực với thái độ hăng say, nồng nhiệt của ông vào những giây phút cuối, cho chúng ta thấy là ông vẫn chưa nguôi niềm hy vọng về một cơ may giúp ông trở thành vị Tổng Thống thứ 44 của Mỹ.
B.- Sự thắng thế của một truyền thống dân chủ:
Lý giải cho kết quả từng là đấu mối gây nên những cuộc tranh cãi trong những tháng ngày qua, công luận chỉ còn biết bám víu vào một niềm tin. Đó là sự thắng thế tất nhiên của một nền dân chủ đã trở thành truyền thống của người dân Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Chính nhờ truyền thống ấy đã giúp hóa giải được hầu hết những mối bất đồng có lúc tưởng như khó vượt qua.
Cái nhìn căn bản trên đây đã soi sáng cho người ngoại cuộc đánh giá đúng mức được những phản ứng nhiều khi có vẻ hết sức mâu thuẫn của người dân thường cũng như những người làm chính trị tại đây. Quan sát mức độ đụng chạm trong nỗ lực vận động giành làm chủ tòa Bạch Ốc giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa trong những tuần lễ chót và cung cách ứng xử mau mắn và dị thường của đôi bên sau khi kết quả kiểm phiếu sơ bộ được công bố vào đêm 04-11, dù đứng ở quan điểm, vị thế nào, người ta cũng phải suy nghĩ. Từ suy nghĩ biến thành cảm phục. Đành rằng chuyện người cầm đầu liên danh thua lên tiếng nhận thua và người đứng mũi chịu sào liên danh thắng có những lời lẽ vuốt ve đối thủ của mình gần như đối với những người theo dõi các cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ 4 năm một lần đều đã biết trước. Giản dị vì nó đã trở thành một thói quen, một qui ước không thay đổi. Nhưng nếu quan sát kỹ sự kiện trên đây giữa người thắng và kẻ thua trong cuộc bầu cử vừa qua, người ta sẽ nhận ra những điểm khác thường.
Trong cuộc tiếp xúc với khối cử tri Cộng Hòa ở tiểu bang nhà sau khi kêu điện thoại rất sớm tới ông Obama chấp nhận thua cuộc, bên cạnh phu nhân và bà Palin, nữ thống đốc bang Alaska người đứng chung liên danh, ứng cử viên Tổng Thống John MacCain nói: hôm nay, dân chúng Hoa Kỳ đã lên tiếng, và tiếng nói của họ rất rõ ràng, minh bạch: TNS Barrack Obama đã trở thành vị Tổng Thống tân cử của chúng ta cho nhiệm kỳ 4 năm sắp tới. Trước phản ứng ngỡ ngàng và những lời la ó bộc lộ thái độ công phẫn của đám đông, ông McCain khoát tay ra dấu cho mọi người im lặng và với giọng nói chân thành, không mặc cảm, ông ôn tồn lên tiếng ca ngợi tư cách cá nhân ông Obama và gia đình ông, đồng thời kêu gọi tất cả hãy cùng nhau đoàn kết sau lưng vị tân Tổng Thống để xây dựng đất nước. Vẫn là một cử chỉ, một tiếng nói mang tính qui ước. Nhưng ở ông McCain vào buổi tối hôm ấy, nó toát ra từ ánh mắt nghiêm trang, thành khẩn của một người lãnh đạo có tầm vóc, hơn thế, một công dân với lòng yêu nước thiết tha, một quân nhân tôn trọng kỷ luật, luôn đặt quyền lợi chung trên quyền lợi riêng.
Về phần vị Tổng Thống tân cử, sau khi nhận điện thoại chúc mừng của người thụ ủy liên danh Cộng Hòa, trong diễn từ dài trước 125 ngàn ủng hộ viên, ông Obama nói: kể từ giây phút này nước Mỹ đã đi vào một đoạn đường mới. Cuộc vận động tranh cử đã kết thúc. Sẽ không cỏn có sự phân biệt người già người trẻ, kẻ sang người hèn, kẻ giàu người nghèo, nam giới hay nữ giới, tôn giáo này hay tôn giáo khác, Cộng Hòa hay Dân Chủ. Tất cả chỉ còn là một khối duy nhất: Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nhắc lại quá khứ lẫy lừng của TNS John McCain, ông Obama thẳng thắn bày tỏ lòng cảm phục tinh thấn ái quốc và nhiệt tâm phục vụ quốc gia, dân tộc của người bạn vong niên đồng viện và cũng là người đã củng ông tham dự cuộc tranh đua vừa qua.
Giữa thời gian bận rộn sắp xếp việc chuyển quyền, hôm Thứ Tư 17-11-2008, Tổng Thống tân cử Barrack Obama đã ân cần mời ông McCain tới gặp gỡ. Tuy nội dung cuộc tiếp xúc này không được chính thức công bố, nhưng dư luận hiểu đấy là một cử chỉ tò bày lòng kính trọng của người thắng cuộc và cũng là dịp để ông tham vấn ý kiến TNS McCain về nội các tương lai cũng như việc điều hành đất nước trong thời gian tới.
Xuyên qua những điều trình bày trên đây, chúng ta thấy: dân chủ không chỉ là một ý niệm, cũng không phải là một tên gọi, một khẩu hiệu suông. Nó là một thực thể được lịch sử làm mới lại hoài hoài qua không gian, thời gian và được sự chuẩn nhận tự nguyện của đám đông gồm những con người, những công dân đã thật sự trưởng thành, biết vượt thoát khỏi những ích kỷ cá nhân, bè phái của cái TA tầm thường, nhỏ hẹp để hòa nhập và vươn tới cái CHÚNG TA rộng lớn, ảnh hưởng tới tương lai và phúc lợi của tập thể. Đó chính là phúc lợi chung của quốc gia, dân tộc.
Xét trên nhiều góc cạnh, kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vừa qua, ngoài giá trị tự thân về tinh thần dân chủ, nó còn mang ý nghĩa của một cuộc cách mạng thật sự. Lần đâu tiên trong lịch sử hơn 200 năm dựng nước, người dân Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã sử dụng lá phiếu của mình để bầu chọn một người da màu vào chức vụ Tổng Thống. Và cũng có thể nói thêm rằng: lần đầu tiên trong một cuộc bầu cử định kỳ 4 năm một lần, con số cử tri thuộc thành phần trẻ đã gia tăng kỷ lục. Sau nhiều thập niên trì trệ, với viển ảnh không mấy lạc quan có khả năng đe dọa vị trí siêu cường của Mỹ, đa số người dân xứ sở này khát khao mong mỏi một luồng gió mới, một sự đổi thay. Họ muốn làm cách mạng
Không kể vị Tổng Thống tân cử là ông Barrack Obama, người đã dùng từ ngữ "thay đổi – change" làm châm ngôn trong suốt cuộc vận động tranh cử để đánh vào tâm lý người dân, ngay sau khi thất cử, hơn ai hết, cả ông John McCain cũng đã ý thức rất rõ điều ấy. Và vượt lên trên cả ý thức, lòng yêu nước còn thôi thúc người lính già từng là khách hàng 5 năm trong nhà tù Hỏa Lò của CSVN, vui vẻ và tự nguyện chấp nhận bước theo con đường không thể đảo ngược. Để làm gì? Để tiếp tục phục vụ đất nước và phúc lợi của đồng bào ông.
Và đấy chính là sức mạnh, là biểu tượng siêu cường của Mỹ Quốc.
II.- TỪ CUỘC BẦU CỬ Ở MỸ NHÌN VỀ VIỆT NAM
A.- Khi đảng CS vẫn nằm lỳ ở vị trí độc tôn!
Về mặt ngôn từ, chữ nghĩa hoặc trên lý thuyết, tuồng như Việt Nam dưới chế độ cộng sản ngày nay đều có tất cả. Trong các văn bản chính thức, bên cạnh danh hiệu "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" (VNDCCH) là những mỹ từ ai cũng mơ uớc: Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc. Điều đáng buồn và cũng đáng phàn nàn đến phẫn nộ là cho tới thời điểm này, khi nhân loại đã bước qua ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, nó vẫn chỉ là những "từ đẹp" mang nặng tính tuyên truyền huyễn hoặc để cho người dân tiếp tục… mơ ước mà thôi! Để thay đồng bào nói lên sự phẫn nộ ấy, trong những Bản Tuyên Ngôn, những Lời Kêu Gọi được công bố trong suốt thời gian chưa bị bỏ tù trong phiên tòa bịt miệng, bên dướí hàng chữ VNDCCH gửi cho nhà nước, linh mục Nguyễn Văn Lý viết: "chưa" Độc Lập - "thiếu" Tự Do – "không" Hạnh Phúc!
Vẫn chưa hết. Ngoài những cái gọi là Hiến Pháp, Quốc Hội, VNDCCH còn trơ trẽn đặt bút ký vào những văn kiện quan trọng được toàn thế giới nhìn nhận như bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Bề ngoài họ công khai cam kết tôn trong tất cả những quyền năng căn bản của con người. Nhưng trong thực tế, chỉ với điều 4 trong Hiến Pháp cho phép đảng cộng sản nắm quyền độc tôn, bằng những nghị định bổ túc và sự tiếp tay đắc lực của súng đạn và bạo quyền, trong hơn nửa thế kỷ qua, tập đoàn lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ đã trắng trợn xoay lưng chà đạp lên tất cả những gì họ cam kết, biến cả nước thành một nhà tủ vĩ đại, trong đó con người đã bị mã hóa thành bày đàn dưới một chế độ nô lệ mới với những thủ đoạn tinh vi, tàn độc!
Đại khối 84 triệu người dân được tôn lên làm "chủ" –một thứ chủ hờ không quyền, không lực- trong khi tất cả, từ ruộng vườn, tài sản, áo cơm tới những ý niệm về tự do, nhân phẩm và từng cá thể những "ông bà chủ" trong hơn 80 triệu nhân vị ấy đều được đặt dưới quyền "quản lý" của chủ nhân chính thức là đảng cộng sản và guồng máy cầm quyền sắt máu!
B.- Tôn giáo: mục tiêu hàng đầu CS cần truy diệt
Tháng 7 năm 1954, sau khi tạm thời làm chủ được một nửa đất nước, một chính sách tinh vi và rộng lớn đã được đảng và nhà nước quyết tâm thi hành nhằm triệt hạ các tôn giáo. Cụ thể với giáo hội Công Giáo, họ tìm cách mua chuộc một vài giáo sĩ thiên tả lập ra một tổ chức với danh xưng Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo Việt Nam, để một mặt lôi kéo đám đông tín hữu đi theo, mặt khác cài người của họ vào những tổ chức, đoàn thể từ đơn vị nhỏ là họ đạo, xứ đạo tới đơn vị cao hơn là giáo phận. Với chủ trương chặn đứng con đường phát triển tương lại của giáo hội Công giáo miền Bắc, mũi dùi đầu tiên chế độ nhắm tới là đóng cửa hầu hết các cơ sở giáo dục do giáo hội quản trị, đặc biệt là các tiểu và đại chủng viện, đuổi đám đông chủng sinh về với gia đình hoặc áp dụng luật động viên để cưỡng bách họ phải vào bộ đội hoặc dân công đi phục vụ chiến trường trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam. Tất cả các cơ sở giáo dục gồm các chủng viện này đều được đặt dưới quyền sử dụng của cán bộ đảng và nhà nước. Họ hi vọng, với thời gian, một thiểu số giám mục, linh mục và tu sĩ không di tản vào miền Nam còn trụ lại miền Bắc sẽ già yếu rồi chết đi theo qui luật đào thải tự nhiên trong khi không có lớp trẻ thay thế. Trong tình trạng ấy, tập thể giáo dân không có người hướng dẫn thì niềm tin tôn giáo nơi họ sẽ tự đi tới chỗ tiêu vong. Đấy là chưa nói tới trường hợp không ít giáo sĩ và tu sĩ tỏ ra bướng bỉnh, có hành vi và ngôn ngữ chống lại nhà cầm quyền mới đã bị thủ tiêu hoặc cầm tù ngay trong thời gian đầu họ mới làm chủ được một nửa lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trờ ra tới ải Nam quan. Cùng chung cảnh ngộ như thế, các thánh đường và các nơi thờ tự, vì không được tu bổ lần hồi đã lâm cảnh đổ nát.
Những biện pháp tương tự cũng được họ áp dụng đối với hàng tăng ni và các tín đồ Phật giáo, như cô lập, khủng bố, giam cầm những bậc chân tu, dùng chính những cán bộ đảng viên tự xưng là tín đồ Phật giáo để phá hoại, gây chia rẽ trong nội bộ giáo hội. Lợi dụng sự lỏng lẻo, khoáng đạt về mặt tổ chức của Phật giáo, họ còn trắng trợn tự đào tạo và đưa cán bộ, đảng viên xâm nhập hàng ngũ tăng sĩ, thay thế những bậc chân tu đã bị bắt bớ hoặc thủ tiêu.
Tháng tư năm 1975, sau khi chiếm được miền Nam, đối với giáo hội Công giáo, để thay thế cho Ủy Ban Liên Lạc, đảng và nhà nước cộng sản đã chỉ thị cho đám tay chân lập ra cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo. Trong thâm tâm, khi thống nhất được lãnh thổ, họ nuôi tham vọng biến toàn thể giáo hội Công giáo Việt Nam, từ Bắc chí Nam thành một giáo hội tự trị, cắt đứt mọi liên lạc với Vatican, tương tự như mô hình giáo hội Công Giáo tự trị trong chế độ Bắc Kinh. Nhưng sau một thời gian dài thử nghiệm, biết rằng không thể thắng được niềm tin son sắt của tập thể tín hữu Công giáo luôn tỏ ra trung thành với giáo hội Công Giáo hoàn vũ, đảng và nhà nước cộng sản bắt đầu nhìn vào thực tế để thay đổi chiến lược.
Một yếu tố khách quan khác cũng buộc họ phải tự lột xác theo một cách thế gian dối, một mưu toan thâm độc nào đó để sống còn. Tiếp theo sự sụp đổ giây chuyền của chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít từ Liên bang Xô Viết qua các quốc gia trong khối Đông Âu cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thế kỷ trước, Hànội miễn cưỡng phải mở ra với thế giới, chấp nhận kinh tế thị trường cùng với những trò chơi dân chủ, cho dẫu chỉ là bề ngoài. Trong điều kiện ấy, họ bắt buộc phải nới lòng bàn tay kiểm soát đối với các tôn giáo, nói riêng với Công giáo. Một số chủng viện được tái hoạt động cùng với việc truyền chức linh mục, bổ nhiệm giám mục, tuy vẫn còn rất hạn chế qua những thủ tục xin phép do họ đặt ra.
C.- Từ cuộc đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo của cha Lý tới cao trào cầu nguyện ôn hòa để đòi lại tài sản đất đai và công lý của giáo dân tại tòa Khâm Sứ và Thái Hà ở Hànội.
Với những người kiên trì theo đuổi cuộc đấu tranh chống lại chế độ độc tài cộng sản Hànội, năm 2000 mang một ý nghĩa đặc biệt. Đây chính là thời điểm linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền, nhân phảm Việt Nam mà cha đã khởi sự ngay từ những năm đầu sau khi tập đoàn cộng sản thôn tính miền Nam. Dù chưa đạt được kết quả như lòng mong muốn vì những thủ đoạn đàn áp dã man và trắng trợn của chế độ mà phiên tòa bịt miệng cuối tháng 3 năm 2007 là một điển hình, nhưng trên thực tế, âm vang những bài giảng thuyết, những Lời Kệu Gọi nói lên thái độ can đảm và lòng yêu nước, yêu đạo nhiệt thành của cha đã đặt nền cho những bước đi vững chắc tiếp theo.
Cùng với sự ra đời của Khối 8406, sự xuất hiện công khai của những khuôn mặt kiên cường đấu tranh cho tự do, dân chủ trên khắp ba miền đất nước như Phương Nam Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Cao Quận, Trần Anh Kim, Nguyễn Thị thanh Nghiên, Trần Khải Thanh Thủy, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân… cùng với sự có mặt của một tờ báo phát hành không xin phép là bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận do các linh mục Chân Tín, Phan Văn Lợi chủ trương, đã mở ra một vận hội mới cho nỗ lực đấu tranh chung. Chính vì nhận ra tầm mức quan trọng của tờ Tự Do Ngôn Luận nên nhân kỷ niệm ngày Nhân Quyền Quốc Tế thứ 60 tháng 12-2008, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam ở hài ngoại có trụ sở tại nam California, Hoa Kỳ đã chọn bán nguyệt san này để trảo giải Nhân Quyền năm nay cùng với hai giải cá nhân trao cho hai nhà dân chủ. Người thứ nhất là thượng tọa Thích thiện Minh, vị tu sĩ Phật giáo từng bị cộng sản giam cầm trong 26 năm, và sau khi được phóng thích nhờ sự can thiệp của thế giới tự do và nỗ lực tranh đấu của đồng bào hải ngoại, vẫn không ngừng theo đuổi con đường đấu tranh cho lý tưởng tự do mà từ lâu ngài hằng ôm ấp. Và người thứ hai là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, một nhà báo hiện đang bị bạo quyền cộng sản cầm tù chỉ vì lòng yêu quê hương đất nước đã thúc đẩy ông đứng lên chống lại kẻ thù phương Bắc khi chúng trắng trợn vẽ lại bản đồ với mưu toan tranh cướp hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ đấy chúng ta có thể nói chắc mà không sợ sai lầm là chính những bước đi chậm nhưng chắc trong khoảng thời gian 7 năm đầu thiên niên thứ ba, kể từ khi cha Lý tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, đã là căn nguyên, là những hạt giống làm trổ sinh trong lòng giáo hội Công giáo những tấm lòng mục tử và đông đảo giáo dân kiên cường, dũng cảm để khơi lên những buổi cầu nguyện kiên trì và sốt sắng của nhiều ngàn tín hữu Công giáo ở tòa Khâm sứ và giáo xứ Thái Hà từ dịp lễ Giáng Sinh 2007 cho đến hôm nay.
Châm ngòi cho khúc rẽ quan trọng này là lá thư luân lưu của đức cha Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Hànội gửi các linh mục, tu sĩ và giáo dân trung tuần tháng 12 năm ngoái. Và chỉ mấy ngày sau, đáp lại lời kêu gọi của chủ chăn, từng đoàn giáo dân trong tổng giáo phận Hànội và các giáo hạt lân cận đã lũ lượt tìm về tham dự những buổi thắp nên, hát Kinh Hòa Bình để đòi lại cho giáo hội, cho dân tộc những gì đã bị chế độ dùng bạo lực cưỡng chiếm từ mấy chục năm qua. Cũng từ đấy cao trào cầu nguyện tập thể, một hình thức đấu tranh ôn hòa, bất bạo động của đám đông các tín hữu Công giáo đã ra khỏi khuôn viên tòa Khâm sứ lan qua giáo xứ Thái Hà, và từ Thái Hà vượt dãy Trường Sơn tiến vào miền Nam.
Đêm Thứ Sáu 11-01-2008, 5 ngàn đồng bào đại đa số là người Công giáo đã tụ tập về sân nhà Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng, Sàigòn để bày tỏ tình hiệp thông với giáo dân Hànội trong một buổi cầu nguyện đặc biệt. Chính tại đây, qua bài giảng thuyết của linh mục Vũ Khởi Phụng, ý nghĩa chiến dịch cầu nguyện đã vượt lên trên mục tiêu đòi lại đất đai tài sản để trở thành một cuộc vận động đấu tranh cho công lý, tự do, dân chủ và nhân quyền, nhân phẩm, không chỉ cho người Công giáo mà cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Theo cha Phụng thì:
"Xã hội hôm nay đã đánh mất tâm linh, lại không còn công lý. Vì thế nhân phẩm con người không còn được tôn trọng, các quyền căn bản của con người không còn được duy trì và bảo đảm đúng nghĩa !"
Cha cao giọng kêu gọi đám đông tín hữu trước mặt là hãy:
"Cầu nguyện cho xã hội chúng ta được đi vào thế giới của sự thật, thế giới của nhân phẩm. Hãy đặt niềm tin nơi Thiên Chúa để từ đấy thiết định niềm tin nơi con người... Chúng ta hãy cùng nhau lên đường với tâm hồn nghèo khó, với tâm hồn hiền lành, với tâm hồn khát khao công bằng và chân lý. Chúng ta hãy cùng nhau lên đường với trái tim biết thương xót những con người nghèo hèn, bé mọn, chưa bao giờ được sống đích thực với nhân phẩm của mình".
Trong một bài viết gửi lên mạng lưới toàn cầu Fiat 408 hai ngày sau, cha Lê Quang Uy, một linh mục trẻ cũng thuộc Dòng Chúa Cứu Thế đã viết như sau:
"Thành ra, biểu tình của người Công Giáo chẳng phải là để đòi mấy mảnh đất, mấy khu nhà dinh thự, cho dẫu những mảnh đất ấy to tiền, những khu nhà ấy dùng được bao nhiêu là việc có ích đến đâu đi nữa. Cái chính yếu lại là đòi cho công lý và hòa bình phải được thực thi.
Chiến tranh không còn nhưng chưa có hòa bình thật sự đâu. Có cả một rừng luật và nghị quyết nhưng cũng chưa có công lý tử tế đâu. Mà tôn giáo chân chính nào cũng vậy, luôn luôn mời gọi sống yêu thương nhân ái, nên nếu có phải biểu tình và đấu tranh thì luôn luôn là bất bạo động, ôn hòa, bao dung. Vì thế người Công Giáo chỉ có thắp nến cầu nguyện và hát Kinh Hòa Bình suốt mấy tuần nay mà thôi!
Đừng nghĩ như thế là yếu, là hèn, hay là không tưởng! Không đâu, nó mạnh ở chỗ đặt hết tin tưởng vào một Chúa ở trên cả Đảng, trên mọi thứ quyền lực bạo liệt nhất của thế gian. Và nó cũng mạnh ở chỗ có khả năng liên kết được với mọi người, lay động được lòng người, những người ở các tôn giáo khác nhau và cả nơi những người vô thần, những người Cộng Sản thứ thiệt..."
(Lm. QUANG UY, DCCT, Chúa Nhật 13.1.2008 – Fiat 408)D.- Vẫn chỉ là thủ đoạn và gian dối.
Khi những buổi cầu nguyện của giáo dân Hànội tại tòa Khâm sứ bước vào giai đoạn quyết liệt có cơ dẫn tới những hệ quả không ai mong chờ thì Quốc Vụ khanh Tòa Thánh gửi một văn thư khẩn tới đức TGM Ngô Quang Kiệt, yêu cầu đức cha khuyên nhủ con chiên của ngài tạm thời chấm dứt cầu nguyện để mở đường cho những cuộc đối thoại giữa giáo hội và nhà nước để giải quyết vấn đề. Và người ta nghe nói tới việc nhà cầm quyền sẽ trả lại tòa Khâm sứ cho tổng giáo phận Hànội. Nhưng rồi 8 tháng trôi qua, mọi sự vẫn không có gì thay đối. Đảng và nhà nước cộng sản không tỏ một dấu chỉ nào cho thấy là họ thành tâm trong các cuộc thương thảo để giải quyết tận gốc vấn đề. Do đó, tháng 8-2008, các giáo sĩ dòng Chúa Cứu Thế và giáo dân Thái Hà đã buộc lòng phải tái tục các buổi cầu nguyện với mức độ kiên trì và mạnh mẽ hơn trước.
Đứng trước đòi hỏi chính đáng của giáo sĩ và giáo dân Thái Hà, đầu tháng 9-2008, vừa đặt chân tới Hànội sau những ngày có mặt tại nam California ký kết những văn kiện kết tình chị em giữa tổng giáo phận Hànội với giáo phận Orange, đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã lên tiếng xác định thái độ. Sáng 02-9-2008, trả lời câu hỏi của một nhà báo, đức cha đã công khai nói lên quan điểm của ngài. Theo đó, để tìm một lối ra cho tình trạng bế tắc hiện nay, nhà nước không thể tiếp tục bước theo con đường mòn đã cũ mà phải có những bước đột phá, sáng tạo, mới mྻ, vì sau 8 tháng trời chờ đợi thấy vấn đề tòa Khâm sứ không được giải quyết thỏa đáng nên người giáo dân đã mất niềm tin nơi những kẻ có quyền sinh sát trong tay. Và vì mất niềm tin họ phải tiếp tục lên tiếng, dĩ nhiên vẫn chỉ bằng phương cách ôn hòa, tuyệt đối bất bạo động là tìm tới giáo xứ để tiếp tục cầu nguyện.
Đáp lại gợi ý cho một giải pháp đột phá, mới mẻ của vị lãnh đạo tinh thấn cầm đầu tổng giáo phận Hànội, đảng và nhà nước cộng sản lại tiếp tục những trò bỉ ổi quen thuộc. Một mặt họ công khai huy động những lực lượng vũ trang công an, cảnh sát tới thị uy trước đám đông giáo dân, lợi dụng lúc đêm tối cắt điện cho nổ hơi cay gây thương tích cho giáo dân đang cầu nguyện. Mặt khác họ ngấm ngầm xúi dục bọn du thủ du thực mạo danh đồng bào tới gây náo động với những lời chửi thề tục tĩu nhắm vào các vị lãnh đạo tinh thần trong giáo xứ, kể cả đức TGM Kiệt. Cùng lúc họ ra lệnh cho các cơ quan truyền thông loan truyền những tin thất thiệt, cắt xén để bóp méo những lời tuyên bố công khai của đức cha Ngô Quang Kiệt trong một cuộc gặp gỡ những giới chức nhà nước không ngoài mục tiêu để đánh lừa công luận.
Tất cả những thủ đoạn lật lừa, gian dối ấy đã dẫn tới màn trình diễn cuối cùng của một nhà nước đạo tặc, bất cố liêm sỉ: vào lúc thành phố còn đang chìm trong giấc ngủ, guồng máy cầm quyền Hànội đã huy động cảnh sát, công an, chó nghiệp vụ trang bị cùng mình tới bao vây các ngả đường dẫn vào tòa Khâm sứ, khu nhà chung, đề phòng phản ứng của giáo dân đồng thời bảo vệ cho những xe ủi đất và đoàn dân công tiến vào đập phá để vộI vã biến khuôn viên tòa Khâm sứ thành một thứ gọi là "Công Viên Xanh". Vài ngày sau, một kế hoạch cướp ngày tương tự cũng đã diễn ra ở khu đất thuộc giáo xứ Thái Hà!
E.- Lẽ được thua và câu chuyện "trăm năm bia đá, ngàn năm bia miệng"
Qua cái nhìn trần tục, duy lý và duy lợi nhuận vật chất trước mắt, thì tuồng như cuộc vận động đấu tranh đòi đất, đòi công lý một cách ôn hòa tuyệt đối bằng lời cầu nguyện của tập thể giáo dân Công giáo ở tòa Khâm sứ và giáo xứ Thái Hà đã bị thua: đất đai, tài sản cần đòi không đòi được trong khi những giáo dân tham gia cầu nguyện bị bắt bớ, phải ra tòa lãnh án và giám mục, linh mục bị nhà cầm quyền gán cho những tội danh không có! Nhưng với cái nhìn xa của những người đang kiên trì tranh đấu cho mục tiêu lâu dài của quốc gia, dân tộc, nhất là qua cặp mắt của người có niềm tin nơi Thiên Chúa thì sự lên tiếng của tập thể công dân Công giáo bên cạnh các giáo sĩ, trong đó có đức TGM Ngô Quang Kiệt, đã ghi đậm những dấu ấn lạc quan.
Trước hết nó cho thấy: từ thế đối kháng lẻ tẻ, cục bộ kéo dài trì trệ trong nhiều thập niên qua, cuộc đấu tranh cho công bằng và lẽ phải ở Việt Nam đã chuyển qua thế quần chúng. Lần đầu tiên kể từ khi cướp được chính quyền, những người cộng sản Việt Nam đã bị đặt vào thế bị động. Trong trường hợp này, riêng tập thể Công giáo dân đã tự khẳng định tư thế tiên thiên của một tôn giáo luôn đứng về phía những thành phần nghèo khổ, chống lại những bất công xã hội.
Trong số phát hành hôm 13-11 vừa qua, tờ Le Figaro, một nhật báo lớn của Pháp đã dành trọn trang 2 để đăng bài viết của nhà báo Francois Hauter với tiêu đề "Việt Nam: Người Công Giáo Đối Đầu Với Đảng" kèm theo tiểu mục: "Vào lúc chính quyền cộng sản bảo vệ quyền lợi của thành phần tham nhũng trong chế độ, thì giáo hội là chỗ nương tựa của những người dân đen thấp cổ bé miệng".
Tác giả viết:
"Giáo Hội Công Giáo tự khẳng định trong những tháng vừa qua như là lực lượng duy nhất có khả năng đứng dậy đối kháng với chính quyền Hà Nội, và làm cho chính quyền phải uốn mình.
Ngay giữa lòng thủ đô, cách nhà thờ chính tòa hai trăm thước, tại khu vực du khách, những mảnh đất mà Khâm sứ Tòa Thánh cư ngụ vào thời thuộc địa pháp, từng được qui hoạch để trở thành một hộp đêm, rồi một siêu thị. Dĩ nhiên, Đảng Cộng Sản làm như thế là để thử khả năng đối kháng của Giáo Hội về vấn đề này. Và họ đã phải trả giá: hằng ngàn tín hữu, suốt bao nhiêu ngày, đã tuôn về nơi đấy, trong thái độ ngồi yên ôn hòa và thinh lặng.
Tại Việt Nam, từ ngày cách mạng đến nay, đây là điều chưa từng thấy. Ngày 19 tháng 9 vừa qua, Đảng đã lùi bước: Đảng đã ra lệnh phong tỏa khu vực với lực lượng cảnh sát trang bị súng đạn và dùi cui, cho xe ủi đất đến phá sập tường rào nơi đó, một nơi mang rất nhiều ý nghĩa biểu trưng đối với người công giáo. Hai hôm sau, mười ngàn tín hữu, cùng với toàn bộ chủng sinh đại chủng viện, tập họp tại đấy hát "Kinh Hòa Bình" của thánh Phanxicô Assisi".
Với cách nhìn và lối suy nghĩ độ lượng, tác giả viết tiếp:
"Và rốt cục hai bên đều không mất mặt, vì nơi ấy cuối cùng trở thành… công viên.
Đội ơn Chúa, tòa Khâm Sứ xưa sẽ không trở thành nơi buôn bán".
Để hỗ trợ cho quan điểm của mình, ở một đoạn khác, Francois Hauter đã trích dẫn nhận định sau đây của đức cha Nguyễn Chí Linh, giám mục Thanh Hoá và là phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam:
"Trong quá khứ, chúng tôi không được rao giảng Phúc Âm cho người lương; hiện nay chủng viện chúng tôi thì đầy ắp. Giáo hội là cộng đồng duy nhất giữa lòng dân tộc đã dám lên tiếng. Chỉ có người công giáo mới dám tỏ thái độ một cách công khai!"(Trích bản dịch của Trần Duy Nhiên được đăng trên DĐGD số này).
Trong phần kế tiếp, tác giả bài báo trình bày những bước lùi của chế độ trước những yêu sách của người Công giáo. Ông cũng gián tiếp nói tới căn nguyên sâu xa khiến đảng và nhà nước bằng mọi giá nhất quyết không giao hoàn những đất đai, tài sản ở tòa Khâm sứ cũng như ở Thái Hà cho giáo dân. Để có thể làm được điều này họ đã phải miễn cưỡng dẹp bỏ lòng tham để chọn giải pháp biến những khu đất kể trên thành công viên thay vì những cơ sở kinh doanh, buôn bán như dự tính từ lâu. Hơn tất cả ai khác, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã thấy rõ nguy cơ: nếu thỏa mãn đòi hỏi của giáo dân trong hai vụ này họ sẽ phải đối diện trước một cao trào đòi đất đai, tài sản không chỉ của riêng giáo hội Công giáo mà còn của hầu hết các tôn giáo khác như Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành cũng như của hàng triệu dân oan khác.
III,- ĐÔI LỜI TẠM KẾT
Nhìn vào tình trạng bi đát của Việt Nam ngày nay, nhiều người –kể cả một số những trí thức, những nhà văn nhà báo một thời là đảng viên đã xoay lưng lại với chế độ- tự hỏi: chừng nào những phần tử chóp bu tại Bắc Bộ Phủ mới vượt ra khỏi được chính mình, dứt khoát giã từ căn bệnh độc tài, gian dối, tham lam, lật lọng, kiêu căng cộng sản? Chỉ trong điều kiện như thế mới giúp họ có đôi chút thong dong để nhận ra được đầu mối làm phát sinh những nan đề của đất nước hiện nay. Đó là thái độ độc tôn, cố chấp khiến cho những ý niệm về tự do, dân chủ mãi mãi còn bị vây hãm trong vòng tù túng.
Đã đến lúc người dân Việt Nam không còn sợ hãi nữa. Qua những đợt xuống đường để đấu tranh ôn hòa bằng lời cầu nguyện của hàng chục ngàn giáo dân ở tòa Khâm sứ, ở Thái Hà và ở khắp mọi nơi trên ba miền đất nước, khát vọng tự do, dân chủ của quần chúng Việt Nam đã và đang cháy sáng. Trong điều kiện như thế, và nhìn vào cảnh ngộ yếu kém, tứ bề thọ địch của đảng và nhà nước hôm nay, những người đứng mũi chịu sào trong chế độ cộng sản Việt Nam lúc này chỉ còn có hai con đường để chọn lựa:
* Một là sớm biết thuận theo dân ý –và cũng là thiên ý- để thành khẩn trả lại công bằng, lẽ phải, tự do và dân chủ cho người dân. Bước thứ nhất là chấm dứt vai trò độc tôn của đảng cộng sản bằng cách dứt khoát xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp. Thứ hai, đoạn tuyệt chủ trương độc quyền trong lãnh vực truyền thông, tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do báo chí. Trả lại cho người dân những nhân quyền căn bản như nội dung Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế đã qui định chẵn 60 năm về trước và được chính chế độ công nhận.
* Hai là phải gánh chịu hệ quả khốc liệt của qui luật "cùng tắc biến" mà qua dòng lịch sử, mọi dân tộc trên địa cầu đều đã trải nghiệm. Những cuộc đình công có lúc lên tới cả trăm ngàn công nhân lao động trong các xí nghiệp ở Sàigòn, Hànội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ; cảnh cả ngàn dân oan lũ lượt kéo về nằm vạ ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hànội, ở Vương Cung Thánh Đường và văn phòng II Quốc Hội, Sàigòn, để khiếu kiện đòi tài sản; những cuộc biểu tình tự phát chống chính sách xâm lăng của Trung Cộng ngoài ý muốn nhà nước cùng với cao trào giáo dân cầu nguyện đòi đất đai, tài sản và đòi công lý đang nổ ra trên khắp ba miền đất nước… là những chỉ dấu báo trước hiện tượng "tức nước vỡ bờ" dẫn tới sự vùng lên nhất loạt của quảng đại quần chúng để lật đổ bạo quyền khi bị đẩy tới bước đường cùng là điều tất nhiên không thể tránh.
Chuyện Liên bang Xô Viết và khối Đâng Âu bị tan vỡ trong sớm chiều đã xảy ra ngoài sức tưởng tượng của con người cuối thế kỷ trước. Trường hợp một nhân vật da đen trở thành Tổng Thống một siêu cường như nước Mỹ hiện nay cũng là một bất ngờ khó tin nhưng có thật.
Từ đấy, trong khi tống tiễn năm cũ để bước vào một năm mới, người ta có đủ lý do để tin rằng: không có điều gì quá khó không thể xảy ra trên hành tinh này.
Những ngày cuối năm Mậu Tý 2008