Viết từ Canada
PHÁI ĐOÀN TÒA THÁNH LẠI LÃNH LÔ AN ỦI
Mặc Giao

        Chúng ta còn nhớ chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 6 năm 2008 của phái đoàn Tòa Thánh Vatican đã không đạt được kết qủa gì ngoài việc công bố muộn gần nửa năm sau thỏa hiệp bổ nhiệm ba giám mục mới: Giám Mục Bắc Ninh Hoàng Văn Đạt, Giám Mục phụ tá Hà Nội Chu Quang Minh và Giám Mục phụ phụ tá Sài Gòn Nguyễn Văn Khảm. Khi tới Việt Nam và trước ngày đàm phán, phái đoàn đã công khai bầy tỏ ý muốn được thảo luận về các vấn đề lớn: bang giao, tranh chấp đất đai, bổ nhiệm các giám mục, Giáo Hội tham gia các công tác giáo dục và xã hội. Chắc chắn các vấn đề này đã được đặt lên bàn hội nghị và hiển nhiên hai bên đã không đạt được thỏa thuận nào. Phái đoàn ra về hầu như tay không với lô an ủi khiêm nhượng ba giám mục mới được trao sau. Trong khi đó các giáo phận Phát Diệm, Ban Mê Thuột vẫn chờ chủ chăn mới, Đức Cha Cao Đình Thuyên địa phận Vinh đã xin nghỉ hưu vì cao tuổi nhưng vẫn chưa có người thay thế.
        Chuyến thăm viếng lần thứ 18 này, từ 15 đến 22 tháng 2-2009, của phái đoàn Tòa Thánh có điểm đặc biệt là được chính phủ Hà Nội mời, được chính phủ lo liệu mọi thứ từ đưa đón, ăn ở tại Nhà Khách Chính phủ, số 2 phố Lê Thạch, đến viếng thăm Bảo tàng Lịch sử và Bảo tàng Dân tộc học, nơi có cả lồng kiếng trưng tượng Đức Mẹ La Vang mặc khăn đóng áo dài. Tại sao chính phủ mời phái đoàn đến lúc này, ngay tháng thứ nhì của năm mới, và tỏ ra ưu ái như vậy? Tôi không tin thiện chí của nhà cầm quyền Hà Nội. Họ chỉ hành động khi có nhu cầu. Nhu cầu của họ lúc này không hẳn là tuyên truyền để chứng tỏ Việt Nam có tự do tôn giáo và làm cho thế giới quên đi vụ ăn cắp tiền của chương trình viện trợ Nhật bản. Nhu cầu của họ là muốn dùng quyền hạn và áp lực của Tòa Thánh để giải quyết cho xong vụ giáo dân Hà Nội tranh đấu đòi công lý. Họ rất căm giận Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, người đã khởi xướng và chỉ đạo cuộc đấu tranh, nhất là đã tuyên bố cảm thấy nhục khi cầm thông hành của chính phủ Cộng sản Việt Nam (dù họ đã cắt lời diễn ý đầy đủ của người nói). Họ rất căm giận các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà. Họ đã công khai đòi thay Đức Cha Kiệt và thuyên chuyển các linh mục cầm đầu Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà đi chỗ khác, nhưng không có cấp giáo quyền nào nghe lời họ. Ngược lại, Tòa Thánh còn ra quyết định cho mở Năm Thánh Thái Hà. Giáo dân thì coi cuộc đấu tranh chưa chấm dứt. Họ kháng án lên tòa trên bản án tòa dưới kết tội họ. Họ kiện báo chí và ký giả đã xuyên tạc lập trường của họ khi loan tin họ cúi đầu nhận tội phá hoại tài sản nhà nước và gây rối trật tự công cộng. Ngày khai mạc Năm Thánh Thái Hà, cơ quan an ninh đã phải tung hàng trăm công an chìm nổi ngăn chặn các ngả đường dẫn đến nhà thờ Thái Hà. Nhà nước e ngại những biến cố mới có thể xảy ra và vượt khỏi tầm kiểm soát. Một chính thể cực quyền không thể chấp nhận tình trạng này giữa thủ đô chính trị của họ. Vì không thể dẹp bằng võ lực, nên họ phải nhờ một thế lực khác giải quyết giùm. Còn thế lực nào mạnh hơn Vatican đối với giáo sĩ và giáo dân?
        Phái đoàn Tòa Thánh lần này vẫn được Đức Ông Pietro Parolin, Thứ Trưởng Ngoại giao, dẫn đầu như những lần trước. Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương cũng là khuôn mặt quen thuộc nhưng có thêm tước hiệu mới: Vụ trưởng Bộ Truyền Giáo. Một nhân vật hoàn toàn mới là Đức Ông Phanxicô Cao Minh Dung, đặc trách Đông Nam Á Châu Phủ Quốc Vụ Khanh (tức Bộ Ngoại giao) Tòa Thánh. Với chức vụ này, Đức Ông Dung từ nay sẽ là người đặc trách theo dõi hồ sơ Việt Nam. Theo chương trình do Cục Lễ Tân Bộ Ngoại Giao Hà Nội công bố, ngoài những cuộc thăm viếng xã giao và tham quan “bắt buộc”, phái đoàn có hai buổi họp tại Bộ Ngoại giao với Thứ Trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường vào các ngày 16 và 17 tháng 2-2009. Ngày 19 phái đoàn chỉ đến chào Ban Tôn giáo Chính phủ và không có chương trình thảo luận với Ban này. Điều này cho thấy những cuộc thảo luận được đặt nặng về chính trị, không nặng về tôn giáo.
        Những người quan tâm đều nóng lòng chờ đợi kết qủa của hai buổi họp ngày 16 và 17. Điều bất ngờ là sau phiên họp đầu tiên ngày 16, “Nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam-Vatican” ra thông cáo báo chí cho biết họ đã hoàn thành phiên họp đầu tiên, thời gian và địa điểm phiên họp khác sẽ được xác định sau. Như thế là không có phiên họp ngày 17 tại Bộ Ngoại giao. Vì cớ gì phiên họp thứ nhì đã bị hủy bỏ? Một là mọi vấn đề đã được giải quyết nhanh chóng và thỏa đáng (nhưng sao không công bố kết qủa?). Hai là cuộc thảo luận đã bế tắc, không có hy vọng khai thông, có họp thêm cũng vô ích. Tôi nghiêng về trường hợp thứ hai và nghĩ thêm phái đoàn Hà Nội muốn tỏ thái độ dằn mặt khi không được phái đoàn Vatican thỏa mãn những đòi hỏi tiên quyết của họ. Điều này được chứng tỏ qua nội dung bản Thông cáo báo chí, trong đó có đoạn: “Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường bày tỏ mong muốn Tòa thánh Vatican đóng góp tích cực vào đời sống Công giáo ở Việt Nam, tăng cường quan hệ đoàn kết giữa các tôn giáo và qua đó tới khối đoàn kết toàn dân ở Việt Nam, làm cho Giáo hội Công giáo gắn bó với dân tộc và đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng đất nước”. Đây là một lời khuyến cáo, nếu không nói là cảnh cáo với ý đòi hỏi Vatican phải buộc Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không được tranh đẩu đòi quyền lợi riêng của mình. Nếu cứ tiếp tục là không đoàn kết với các tôn giáo khác, không đoàn kết và gắn bó với dân tộc, không xây dựng đất nước. Toàn tội và tội.
        Để đáp lời, Thứ trưởng Parolin đã “khẳng định chính sách của Tòa Thánh là tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, trong đó các hoạt động tôn giáo của Giáo hội hoàn toàn không vì mục đích chính trị. Thứ trưởng Parolin nhấn mạnh giáo lý của Giáo hội kêu gọi tín đồ phải là công dân tốt, phấn đấu vì ích lợi chung của đất nước”. Nội dung những lời đáp lễ này chỉ là một sự chống đỡ, xác định lập trường, được viết lại bằng giọng văn đặc sệt mùi xã hội chủ nghiã, không có một đòi hỏi hay thỉnh cầu nào.
        Kết qủa duy nhất, nếu gọi là kết qủa, của phiên họp là “Hai bên cho rằng cuộc họp đầu tiên của Nhóm công tác hỗn hợp là một bước tiến mới quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam và Tòa thánh và nhất trí tiếp tục nỗ lực hơn nữa để thúc đẩy quan hệ song phương”. Phần cuối bản Thông cáo, bao giờ cũng có một câu ước lệ ngoại giao thông thường: “Cuộc họp đã diễn ra trong không khí cởi mở, thẳng thắn và tôn trọng lẫn nhau”.
        Khi được hỏi về kết qủa điều đình liên quan đến việc bang giao giữa Vatican và Việt Nam, một việc được nói tới nhiều lần kể từ lúc Thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng thăm Đức Giáo Hoàng năm 2007, Đức Ông Parolin trả lời rằng lần này đã có tiến bộ vì hai bên cam kết đi vào giai đoạn thảo luận tích cực. Đức Ông còn nói thêm là có thể Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 sẽ thăm Việt Nam trong năm nay. Tôi cho rằng những câu trả lời này chỉ có tính cách tự an ủi và để dư luận khỏi nghĩ là cuộc viếng thăm lần này hoàn toàn vô ích. Đã hơn một lần hai bên tuyên bố bước vào tiến trình tích cực sửa soạn bang giao nhưng bang giao vẫn chỉ là lời hứa hay chỉ là miếng mồi để Hà Nội nhử Vatican. Còn việc Đức Giáo Hoàng thăm Việt Nam, phát ngôn viên của chính phủ Việt Nam đã đính chính ngay là Vatican chưa đưa đề nghị chính thức nên Việt Nam chưa cứu xét. Tôi cũng đồng ý với quan điểm cho rằng ngày nào Trung Quốc chưa thiết lập bang giao với Vatican và chưa mời Đức Giáo Hoàng sang thăm Trung Quốc, thì Cộng sản Việt Nam không dám qua mặt đàn anh để quyết định một cách độc lập, trừ khi được đàn anh cho phép làm thử trước để rút kinh nghiệm.
        Như vậy phái đoàn Tòa Thánh đến Việt Nam chỉ họp một lần với phái đoàn chính phủ Việt Nam. Sau đó phái đoàn có qúa nhiều thời giờ dư để du ngoạn, rong chơi và viếng thăm “mục vụ”. Tại Thái Bình, phái đoàn đã được Đức Cha Nguyễn Văn Sang hướng dẫn tham quan và làm lễ tại nhà thờ chính tòa Thái Bình, một kiến trúc mới được xây cất vô cùng “hoành tráng” theo kiểu tân cổ giao duyên Tây phương, sau đó thăm xứ đạo Đông Phú, một vùng quê nghèo, nay đã có một thánh đường lộng lẫy với hai tháp chuông cao vút soi bóng trên mặt hồ nhân tạo. Phái đoàn có rút được bài học nào nơi Đức Cha Sang? Cộng tác hay không cộng tác với nhà cầm quyền thì lợi hại ra sao? Khi phái đoàn đi thăm địa phận Bùi Chu thì được hưởng cảnh “tắm đám đông” (tôi tạm dịch thành ngữ Pháp “bain de foule”). Trước những người và cảnh này, phái đoàn có cần xét lại việc tranh đấu cho tự do tôn giáo ở Việt Nam hay không? Hay cho đó là lô an ủi của chuyến đi không lại về không, chỉ mang về được gói qùa nhỏ là việc nhà nước đồng ý bổ nhiệm Linh mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản làm tân Giám mục Ban Mê Thuột?

CHA GIÀ CỦA DƯƠNG THU HƯƠNG Ở ĐỈNH CAO CHÓI LỌI
        Bản Pháp ngữ của tập truyện “Đỉnh Cao Chói Lọi”, tác phẩm mới nhất của Dương Thu Hương, do Đặng Trần Phương dịch với tựa đề “Au Zénith”, đã được xuất bản tại Paris. Bản gốc Việt ngữ chưa được xuất bản, nhưng những bản dịch tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Ba Lan đã được quảng cáo là sẽ được trình làng trong thời gian gần đây. Tác phẩm này đã gây một vài tiếng vang trong dư luận, không phải như một biến cố văn chương, nhưng vì những tiết lộ động trời liên quan đến “Cha Già Dân Tộc” Hồ Chí Minh.
        Dương Thu Hương là một cựu đảng viên Cộng sản, tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du, đã tình nguyện đi chiến trường miền Nam làm công tác văn công để tác động tinh thần bộ đội. Nhưng khi vào đến Sài Gòn như một kẻ chiến thắng, Dương Thu Hương đã cay đắng nhận ra rằng chẳng có cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước nào hết, nhưng chỉ là cuộc chém giết giữa hai phe người Việt với nhau, và: “dù gì chăng nữa thì cái mô hình xã hội của cái miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi là người trong đội ngũ chiến thắng thì thực ra chúng tôi đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ” (trả lời phỏng vấn của Little Saigon Radio, 30-04-2001). Từ đó, Dương Thu Hương quay sang thái độ chống đảng, bị nhốt tù, bị khai trừ khỏi đảng, được cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh gọi là “con đĩ phá đảng”, rồi đi Pháp và tị nạn luôn tại Pháp. Vì vậy, người ta không lấy làm lạ khi đọc lời đề tặng của tác giả ở đầu tác phẩm “Au Zénith”: “Pour Lưu Quang Vũ et tous les innocents qui sont morts dans ce silence noir” (tặng Lưu Quang Vũ và tất cả những người vô tội đã chết trong sự im lặng đen tối). Lưu Quang Vũ là một nhà viết kịch đã có những vở kịch gây nhức nhối cho nhà cầm quyền Cộng sản thời “cởi trói”, bị xe đụng chết cùng với vợ một cách mờ ám.
        “Đỉnh Cao Chói Lọi” là một tiểu thuyết, nhưng không phải là một tiểu thuyết hoàn toàn giả tưởng. Những nhân vật và sự kiện chính đều dựa vào thực tế. Dĩ nhiên tác giả có hư cấu. Điều này đã được tác giả xác nhận: “Tôi vốn không đủ khả năng sáng tác hoàn toàn dựa vào trí tưởng tượng. Mọi cuốn sách tôi viết đều xây dựng trên một câu chuyện thực. Dẫu vậy, vẫn cần nhắc lại một cách nghiêm cẩn rằng tiểu thuyết là tiểu thuyết”. Vậy chuyện “không dựa vào trí tưởng tượng” trong “Đỉnh Cao Chói lọi” là gì? Có thể trả lời ngay đó là chuyện cuộc đời tình ái của ông Hồ đi song song với chuyện ông bị đàn em truất quyền, cho ngồi trên đỉnh cao làm bù nhìn với tước hiệu “Cha Già Dân Tộc”. Ông Hồ là người được guồng máy tuyên truyền cộng sản ca tụng là vị lãnh đạo anh minh và đạo đức tuyệt vời, đã hy sinh bản thân, không màng tới hạnh phúc lứa đôi, không tìm êm ấm của đời sống gia đình, đã dành hết cuộc đời hy sinh cho dân tộc. Cho tới bây giờ, rất nhiều người vẫn còn tin như vậy, nhất là người ngoại quốc.
        Thế nhưng, ngay trang đầu “Đỉnh Cao Chói Lọi”, tác giả đã diễn tả nỗi đau khổ của ông Hồ khi nghe tiếng kêu “Cha ơi!...Cha!” của một đứa trẻ hốt hoảng kêu cứu khi người cha tiều phu của nó vừa xẩy chân ngã xuống sườn núi. Ông thương đứa trẻ thì ít, nhưng nhớ tới con ông thì nhiều. Ông nghĩ: “Có lẽ nó cũng xấp xỉ tuổi thằng bé. Cùng một lứa tuổi nhưng ít may mắn hơn”. Tại sao con một chủ tịch nước lại không may mắn bằng con một tiều phu? Lý do: con của bác tiều phu có cha để gọi, còn con trai ông đã không được ông công nhận, bị giao cho Vũ Kỳ, một đàn em thân tín của ông, nhận làm con nuôi. Chị của nó, tức con gái của ông, cũng bị đưa cho người khác nuôi sau khi mẹ của chúng, Nông Thị Xuân, người đã ăn nằm với ông như vợ chồng, bị bộ hạ của ông hãm hiếp, đập chết bằng chầy vồ rồi vứt xác ra đường Quảng Bá, dàn dựng thành vụ đụng xe. Tội của cô Xuân là xin được hợp thức hóa danh nghiã vợ chồng với ông. Ông đã đưa vấn đề ra bàn tại Bộ Chính Trị. Toàn thể ủy viên Bộ Chính Trị đã bác khước lời thỉnh cầu này vì muốn bảo toàn hình ảnh “Cha Già Dân Tộc” của ông để dùng hình ảnh đó làm tấm bình phong che đậy những hành động mờ ám của họ. Anh Sáu (Lê Đức Thọ) phải ra tay hành động liền. Anh cho lệnh Quốc Tùy (Bộ trưởng Nội vụ Hoàn, nguyên là một tên móc túi ở chợ Sắt, Hải Phòng) làm nhục và thủ tiêu cô Xuân. Hai đứa con của cô Xuân và ông Hồ nếu không được cô Đông (tức cô Vàng, chị của cô Xuân) đưa đi trốn kịp thời chắc cũng phải chịu cùng số phận với mẹ. Sau đó cô Đông cũng bị giết để không còn ai làm nhân chứng. Ông Hồ chỉ khóc, không một lời trách móc, không một hành động phản đối, không một chỉ thị bảo vệ những đứa con của chính mình. Ông Thủ tướng Phạm văn Đồng cũng chỉ biết khóc kín đáo và than vãn với Vũ Kỳ. Cảnh hồi tưởng này xảy ra trên một đỉnh núi mù mây, trong một căn phòng rộng của chùa Lan Vu, nơi ông Hồ được đưa đến dưỡng bệnh, thật ra là bị giam lỏng. Ông nhớ con rồi lại nhớ cô Xuân. Ông thích nghe bài hát có câu:
        Người yêu dấu…
        Biết bao giờ lại trông thấy nhau…

        Rồi ông nói bằng tiếng câm nín: “Xin hãy tha thứ cho tôi”.
        Chuyện tình của ông Hồ không phải chỉ có vậy. Trong phần hồi tưởng, ông còn nhớ tới bà đầm nạ dòng làm nghề khâu mũ ở Paris, ở cùng chung cư với ông khi ông hành nghề rửa ảnh chờ thời ở thủ đô Pháp. Bà đầm nạ dòng này đã có con gái lớn nhưng không chồng, rất hài lòng khi bắt được anh trai Nguyễn Tất Thành để sưởi ấm những đêm đông giá lạnh. Rồi trong thời gian kháng chiến chống Pháp ở núi rừng Việt Bắc, Bộ Chính Trị thương “anh cả” cu ki một mình, ra lệnh cho Hội Phụ Nữ Cứu Quốc tìm cho anh một nàng nâng khăn sửa gối với điều kiện tuyệt đối không dính dáng tình cảm, chỉ làm công tác hộ lý. Hội Phụ Nữ đã kiếm cho anh cô Minh Thu với nhan sắc vai lệch, đầu gối củ lạc, tóc rụng thưa, người khô đét như cá mắm. Nàng ôm một chiếc gối và một cái chăn cuốn trong một manh chiếu cá nhân đến phòng ngủ riêng của anh cả để hiến dâng. Khi nàng xuất hiện, anh cả vừa thấy đã hoảng hồn, lòng lạnh như băng giá. Anh thương hại, cố tỏ ra “ga-lăng” mời nàng uống trà rồi chỉ chỗ cho nàng đi ngủ trước, lấy cớ anh phải thức khuya làm việc. Nàng tủi thân, nằm quay mặt vào tường khóc. Đêm hôm sau, anh cả thấy mình đối xử như vậy là bất nhẫn nên phải nghiến răng gồng mình chiếu cố món qùa mà Hội Phụ Nữ Cứu Quốc gửi tặng. Truyện chỉ kể có ba mối tình như vậy thôi. Còn những mối tình khác như việc anh cả đã tằng tịu với bao nhiêu cô bồ da trắng khi ở Liên Xô, đã cưới một phụ nữ Trung Hoa tên Tăng Tuyết Minh làm vợ và phỗng tay trên vợ yêu của “đồng chí” Trần Phú, tức nàng Nguyễn Thị Minh Khai, thì không thấy tác giả Dương Thu Hương cho anh cả hồi tưởng. Ấy là chưa kể những vụ lăng nhăng khác không được ghi vào chính sử và ngoại sử.
        Để biện minh cho thành tích xác thịt của chủ tịch, Dương Thu Hương đã mượn lời của anh Sáu Thọ nói với Vũ Kỳ để bênh bọn “đàn ông thấy đồ lạ như qụa thấy gà con” như sau: “Cũng cần thông cảm cho người khác. Không phải ai cũng chịu được cuộc sống thầy tu như cậu. Đàn ông như gà trống, nó phải biết khoe mào và vẫy đuôi”.
        Ngay bản thân anh Sáu, một người sắt máu và đặt tham vọng lên trên hết, cũng phải chân thành tự thú:
        - “Về già bỗng dưng lại thèm ngắm gái đẹp. Món này hình như cũng giống như thuốc lá, thuốc lào, cai được hàng chục năm bỗng dưng nghiện lại…”
        Rồi anh nửa đùa nửa thật tự đề cao cái “libido” của mình:
        - “Cái thân xác của tôi có sức chứa mười hai cuộc đời khác biệt, đủ sự dẻo dai để phục vụ một cách tận tụy ba mươi sáu người đàn bà, từ dậy thì cho đến hồi xuân”.
        Như vậy là các lãnh tụ anh minh và đạo đức của đảng đều là những tay chơi có hạng, coi việc trai gái là chuyện tự nhiên, rất con người. Họ chỉ cần dấu diếm cho kỹ để bảo vệ cái mặt nạ “vì dân vì nước” của họ. Chơi xong rồi bỏ, chuyện nhỏ không đáng kể. Chơi xong rồi giết, nếu thấy cần thiết cho mục tiêu chung. Họ đâu có xá gì đến đạo đức và tình người. Họ cũng chỉ làm theo lời chủ tịch Mãn (Mao Trạch Đông) khi ông này hiện về trong giấc mơ để an ủi và dậy bảo ông Hồ lúc ông Hồ đang khóc nhớ con:
        - “Một hoàng đế phương đông xứng đáng là hoàng đế không khóc lén khóc thầm vì một chút máu rơi. Ngươi biết rằng ta đã vãi tinh trùng của ta trên giang sơn như cầy vãi thóc. Ta không nhớ và ta cũng không cần nhớ là có bao nhiêu đứa bé ra đời dọc đường đi. Ta không có phận sự phải nhớ tới chúng. Kẻ khác phải lo liệu… Quyền lực không dung hòa với những thứ tình cảm của lương dân”.
        Kết luận: nếu ông Hồ có vung vãi những giọt máu rơi thì cũng là chuyện bình thường. Ông là con người, lại là người có quyền lực.
        Nói về quyền lực của ông Hồ bị đàn em tóm thâu, Dương Thu Hương cho hiểu là Anh Ba (Lê Duẩn) và Anh Sáu (Lê Đức Thọ) đã chặt hết tay chân thân tín của ông Hồ và đặt người của họ vào mọi vị trí then chốt trong guồng máy đảng và chính phủ. Đại tướng Long (Võ Nguyên Giáp) bị giao công tác cai đẻ, khiến dân gian đặt thơ diễu: “Ngày xưa đại tướng cầm quân. Bây giờ đại tướng cầm quần chúng em”. Tuy không cùng phe với Ba và Sáu nhưng tướng Long cũng đồng ý là không thể cho phép ông Hồ công khai cưới cô Xuân, để khỏi làm hoen ố hình ảnh “Cha Già dân tộc”. Ông Hồ hết còn ai để trông cậy, ngoài Vũ Kỳ để tâm sự. Dương Thu Hương cho rằng ông Hồ chống đối cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam”. Ông muốn có thời giờ và hơi sức xây dựng miền Bắc và không muốn máu dân Việt đổ thêm. Trong khi đó, bọn Duẩn, Thọ quyết tâm dốc cả tài nguyên và nhân lực của miền Bắc vào một cuộc phiêu lưu võ trang mới. Họ nắm đa số tuyệt đối trong Bộ Chính Trị. Khi đưa vấn đề ra thảo luận, ông Hồ, dù với tư cách Chủ tịch đảng và Chủ tịch nước, cũng không dám công khai trình bầy ý kiến của mình, chỉ trao lời cho một đàn em cấp thứ trưởng lên tiếng phân tích những hơn thiệt của việc phát động chiến tranh. Người này bị cắt lời, bị xỉ vả và sau đó bị hạ tầng công tác. Ông Hồ ngồi im thin thít và phải chấp thuận quyết định của đa số. Ông không có cách gì ngăn cản tham vọng điên cuồng của bọn Duẩn, Thọ. Ông rất đau lòng khi nghe báo cáo đầu tiên của Vũ Kỳ: “Tình hình đang rất xấu. Sức chưa đủ nhưng họ đã quyết định tấn công. Tướng Hãn gặp em thông báo rằng trận đánh Nậm Phi, toàn bộ chỉ huy bị nghiền nát, riêng tướng Hãn ở Hà Tĩnh nên thoát. Xác lính ngập đầy khe, nước suối không chẩy nổi… Báo, đài chỉ loan tin thắng trận. Lính đào ngũ bị chận trên các ngả đường rừng từ Quảng Trị ra Hà Tĩnh và bị đưa vào các trại cải tạo đào binh. Không một ai ngoài miền Bắc biết được tin tức thật của mặt trận”.
        Ông Hồ không dám ra ra mặt phản đối nhưng vẫn bị phe hiếu chiến nghi ngờ, thậm chí họ còn âm mưu dàn dựng một tại nạn máy bay để hãm hại ông. Trong một chuyến bay đêm trở về Hà Nội bằng trực thăng, phi công chở ông đã kịp thời khám phá ra đèn hiệu hạ cánh được đặt ngay trên mép hồ. Nhờ kinh ngiệm và nhanh trí, phi công đã đáp trực thăng an toàn xuống một sân tối đèn. Nếu anh đáp vào địa điểm theo đèn hiệu, chiếc trực thăng sẽ lao xuống nước. Từ đó ông Hồ càng sợ và càng ngoan ngoãn nghe theo những áp đặt của bọn Duẩn, Thọ.
        Đến lúc cuối đời, vào tuổi 79, ông Hồ mới nghĩ ra cách trả thù bọn đàn em đã cướp quyền của ông bằng cách quyết định chết vào đúng ngày quốc khánh mồng 2 tháng 9. Ông tin rằng “theo pháp thuật cổ, kẻ sáng lập ra một vương quốc, một tôn giáo, một môn phái võ lâm mà chết đúng vào ngày khai sinh các tạo phẩm ấy thì đó sẽ là điềm tiên triệu xác thực, là bản phán quyết định mệnh cho sự kết thúc không thể tránh được của chính các tạo phẩm trên”. Dương Thu Hương đã tạo ra một ông Hồ Chí Minh rất hữu thần, kêu xin từ thần linh đất nước đến Như Lai Phật Tổ chứng giám cho lòng thành của ông và giúp ông hoàn thành ước nguyện. Ông đã thành khẩn cầu nguyện bằng những lời thống thiết:
        - “Hỡi các vị thần linh đất nước, hỡi những linh hồn cao thượng của các anh hùng hào kiệt và các bậc quân vương, những người từng khai phá và bảo vệ giang sơn này. Nếu thân xác các ngài đã tan rã nhưng linh anh của các ngài vẫn tồn tại và ngự trị vĩnh hằng trên tổ quốc, xin hãy trở về đây để trợ giúp tôi.
        Hỡi Như Lai Phật Tổ, tôi chưa từng đi theo đạo của Ngài nhưng tôi may mắn biết được những đệ tử trung thành của Ngài ở nơi đây và tôi hiểu sức mạnh chinh phục của Ngài với trần thế. Nếu qủa thật anh linh của Ngài luôn luôn ngự trị cõi trời tây, xin Ngài hãy hợp lực cùng với các vị thần xứ sở của tôi, để giúp tôi đạt được sở nguyện cuối cùng này:
        Tôi, kẻ đã khai sinh ra nhà nước cộng sản Việt Nam vào mùa thu năm Ất Dậu, tức ngày mồng hai tháng chín theo lịch Ki-tô, xin được rời bỏ cõi trần vào đúng ngày ấy tháng ấy năm nay, mùa thu Kỉ Dậu. Cái chết của tôi sẽ là điềm báo triệu và là bản phán quyết khai tử cho chính nó, cái thể chế tàn độc và phản bội này.
        Cái chết của tôi sẽ là tặng phẩm cuối cùng dành cho dân tộc tôi.
        Cái chết của tôi sẽ là chiến thắng cuối cùng có thể gặt hái, để bù trả lại những thất bại và lỗi lầm tôi đã phạm trong suốt cuộc đời mình.
        Cái chết của tôi sẽ là lời sám hối thánh thiện nhất trước pháp đình tối thượng của thiên nhiên và của lương tâm.

        Vậy, tôi tha thiết xin tất cả các ngài hãy giúp cho tôi đạt được điều ước nguyện!”
        Ông Hồ đã chết đúng vào ngày quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 1969, nhưng không ai biết ông chết cách nào, uống thuốc độc tự tử hay rút ống trợ sinh, hoặc chết tự nhiên vì bệnh tật và tuổi già? Đàn em của ông nói láo là ông chết ngày 3 tháng 9, thay đổi di chúc và làm lễ quốc táng cho ông với rất nhiều nước mắt cá sấu. Sự trả thù của ông Hồ không có hiệu qủa. Bốn mươi năm sau ngày ông chết, “cái thể chế tàn độc và phản bội” vẫn còn nguyên đó. Có lẽ thần linh không nghe lời cầu của ông vì ông có thành tích nói dối khiến thần linh cũng phải sợ.
        Tôi không làm công việc phê bình văn chương tác phẩm “Đỉnh Cao Chói Lọi”, dù đôi khi tôi cũng thấy nản khi đọc những đoạn lý luận dài dòng và lẩm cẩm trong tác phẩm. Lý luận qúa thông thường đến độ tầm thường. Cách diễn tả lại không có gì đặc sắc để lôi cuốn người đọc. Đôi chỗ lại có những hạt sạn khá to như trong đoạn nói cháu Nghiã, con gái ông Hồ, nếu không được lên tỉnh học hành, phải ở nhà quê làm ruộng thì sẽ trở thành “nông phu”. Đàn bà con gái mà gọi là “nông phu” sao được? Dương Thu Hương là một người viết văn chuyên nghiệp, bạo ăn bạo nói, có nhiều kinh nghiệm sắp xếp nhân vật và sự việc, nhưng chưa tự chứng tỏ là một nhà văn có tầm cỡ, xứng đáng với sự kiện có một số tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài, được xuất bản tại ngoại quốc. Sách của bà có khá đông người đọc vì tò mò, nhất là tò mò về một cây viết phụ nữ xuất phát từ đảng Cộng sản rồi quay lại chửi bới đảng không tiếc lời.
        Việc Dương Thu Hương chửi đảng Cộng sản Việt Nam là chuyện không mới nhưng không thừa. Có viết thêm một ngàn cuốn sách vẫn chưa đủ để kể hết những tội ác mà đảng này đã gây ra cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Có điều trong “Đỉnh Cao Chói Lọi”, Dương Thu Hương không nói hay nói rất ít tới trách nhiệm của ông Hồ Chí Minh liên quan tới những tội ác do đảng Cộng sản gây ra. Trái lại, Dương Thu Hương còn bênh vực ông. Dù chấp nhận quan điểm tác giả là “thượng đế” trong tác phẩm của mình, muốn tạo ra bao nhiêu nhân vật, bao nhiêu hoàn cảnh, muốn cho ai sống, ai chết, ai yêu, ai ghét, tùy ý, người đọc vẫn không quên lời giáo đầu của Dương Thu Hương là mọi cuốn sách bà viết đều xây dựng trên một câu chuyện thực. Như vậy “Đỉnh Cao Chói Lọi” phải được coi là một tiểu thuyết lịch sử, chính trị, nhân vật. Đã đi vào phạm trù này thì lương tâm người cầm bút không cho phép tác giả dẫn người đọc đi xa sự thật khách quan.
        Sự thật có phải như Dương Thu Hương viết là ông Hồ thương vợ thương con, thương nước thương dân, muốn dân được no ấm hạnh phúc, không muốn gây chiến tranh ở miền Nam? Sự thật có phải là ông Hồ bị đám đàn em bó tay nên phải đóng vai lãnh tụ bù nhìn, không thể lấy những quyết định như ông mong muốn? Dương Thu Hương tìm những lý do để biện minh cho ông Hồ. Nhưng hãy nhìn vào những sự kiện lịch sử có thật để xem những lý do biện minh đó có đứng vững hay không:
        - Ông Hồ là người có trách nhiệm đầu tiên đưa chủ thuyết Mác Lê vào Việt Nam, thiết lập chế độ cộng sản theo sách lược của Staline và Mao Trạch Đông. Chính điều này đã gây chia rẽ dân tộc, gây hận thù giữa các tầng lớp nhân dân, cho tới nay vẫn chưa chấm dứt. Gia sản ông để lại là một guồng máy cai trị độc tài, đảng trị, lạc hậu, tham lam và tàn ác, nguyên cớ sinh ra mọi điều bất hạnh cho đất nước và dân tộc.
        - Ông Hồ không chờ người ta tô son điểm phấn cho ông để suy tôn ông là lãnh tụ tài ba và đạo đức chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, ông đã viết hai cuốn sách ký tên khác để tự ca tụng mình. Năm 1945, ông đã chấp nhận danh xưng “cha già dân tộc” dù lúc đó ông mới 55 tuổi (ông sinh năm 1990). Như vậy không thể nói ông là người không hám danh và không thích được suy tôn.
        - Năm 1954, khi ra lệnh cho các cán binh gia tăng quan hệ với phụ nữ miền Nam, chôn dấu vũ khí và gài cán bộ nằm vùng tại miền Nam, ông Hồ và đảng Cộng sản đã có kế hoạch tái phát động chiến tranh ngay khi đặt bút ký hiệp định hòa bình. Năm 1959, khi cho thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, ông Hồ và đảng Cộng sản muốn có một tổ chức bù nhìn để núp dưới danh nghiã đó tiến hành cuộc xâm chiếm miền Nam, gây tàn phá đất nước và làm thiệt mạng hàng triệu đồng bào cả nước. Ông Hồ là chủ tịch đảng và chủ tịch nước trong những thời điểm này.
        - Năm 1955, khi phát động cuộc cải cách ruộng đất, gây chết chóc cho hàng vạn nông dân vô tội, làm đảo lộn xã hội, luân lý và truyền thống của dân tộc, ông Hồ đang là chủ tịch đảng và chủ tịch nước.
        - Năm 1957, khi cô Nông Thị Xuân, người đầu gối tay ấp với ông, người con gái Tày xinh đẹp kém ông 40 tuổi, hết lòng tin cậy và trao phó cuộc đời của ba mẹ con cô cho ông, đã bị ông ngoảnh mặt làm ngơ, mặc cho đàn em hãm hiếp và đập chết một cách dã man. Lúc đó ông đang là chủ tịch đảng và chủ tịch nước.
        Không thể nói khi những sự việc trên xảy ra, ông đã già cả, bệnh hoạn, bị bao vây và bị tước quyền. Năm 1954, ông mới 64 tuổi. Lúc cô Xuân bị nạn, ông mới 67 tuổi, sức khỏe còn dồi dào, quyền uy còn đầy ắp. Ông có thể lấy những quyết định ngược với những điều ông đã cho phép xảy ra. Ông phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thảm họa này. Ông còn tự chứng tỏ là một người không tình cảm, vô ân bạc nghiã. Vũ Thư Hiên viết trong “Đêm Giữa Ban Ngày” kể chuyện mẹ ông, bà Vũ Đình Huỳnh, đến gặp ông Hồ để nhờ can thiệp cho chồng mình bị phe Duẩn, Thọ bắt oan. Ông Vũ Đình Huỳnh là một đàn em thân tín của ông Hồ, được ông giao chức Giám đốc Lễ Tân Phủ Chủ Tịch (Giám đốc Nha Nghi lễ). Ông Hồ đã từng ăn dầm ở dề nhà ông Huỳnh và bà Huỳnh đã nhiều lần vui vẻ phục vụ cơm bưng nước rót. Vậy mà khi nghe bà Huỳnh nhờ ông can thiệp cho chồng, ông đã nói lảng sang chuyện khác, không một lời an ủi, không một lời hứa hẹn. Bà Huỳnh thất vọng ra về, thề sẽ không bao giờ nhìn lại mặt ông Hồ.
        Theo sự diễn tả của Dương Thu Hương, ông Hồ có hối hận và tự vấn vào lúc… gần chết. Khi chờ ông Vũ tại nhà nghỉ trên núi, ông tự đặt câu hỏi cho mình: “Sao bỗng nhiên ta rơi vào tình trạng oái oăm này? Trước đây vài năm, tất thảy còn khác biệt.” Như vậy là chỉ cách đó ít năm, ông còn đầy quyền uy, nhưng ông đã không hành động theo những gì Dương Thu Hương ca ngợi nơi ông. Liền đó ông tự nhủ: “Ta chẳng có cách lựa chọn nào khác”, rồi ông nghe một tiếng nói khác phát ra tự trong lòng: “Không phải là không có những con đường khác. Nhưng vấn đề là ngươi không đủ can đảm để lựa chọn một con đường khác”. Ngay ông Vũ, người thân tín nhất của ông, cũng toan gọi điện thoại cho ông để nói trắng ra rằng: “Anh cả ơi, anh chớ tưởng anh là người khôn ngoan, chín chắn. Anh không biết rằng anh chính là một thằng ngu, đại đại ngu”. Ông Vũ bực mình nên trách “anh cả” ngu. Thật ra ông không ngu. Bà vợ lăng loàn của ông Vũ lại tỏ ra hiểu “anh cả” hơn chồng khi bà nói: “Đã là cha già dân tộc, ông cụ không thể sống như những người bình thường. Đã ‘no phần xôi thì thôi phần thịt’ chứ”. Rõ là đàn bà có óc thực dụng và nhìn thấy nhiều chi tiết hơn đàn ông. Ông cụ đã được ăn no phần xôi, tức là được đóng vai “Cha già dân tộc”, “Lãnh tụ anh minh”, được thỏa mãn sinh lý với đủ thứ hạng người mà không bị kết án là hoang dâm, thì phải nhường phần thịt cho người khác. Phần thịt đây là quyền hành sinh sát, kể cả sinh sát vợ con ông, và quyền tích lũy tài sản trên xương máu của nhân dân. Ông cứ nhắm mắt để vừa được ăn, vừa được nói, vừa được thờ. Cái khôn (mà không ngoan) của ông là như vậy!
        Qua “Đỉnh Cao Chói Lọi”, Dương Thu Hương đã cho người đọc nhìn thấy sự thối tha của guồng máy đảng Cộng sản Việt Nam, đã kéo thần tượng Hồ Chí Minh từ địa vị thánh sống xuống tầm mức con người, nhất là về phương diện tình dục, để làm nhẹ tội nhiều vợ nhiều bồ của ông. Tuy nhiên, có lẽ vì bị ấn tượng qúa sâu về hình ảnh lãnh tụ giải phóng dân tộc và sự khôn ngoan của ông Hồ, Dương Thu Hương đã tách ông Hồ ra khỏi trách nhiệm của những tội ác tàn phá đất nước và con người. Dương Thu Hương chẳng những đã đặt ông Hồ ở “Đỉnh Cao” mà còn “Chói Lọi”. Sự suy phục cá nhân đến độ chỉ nhìn thấy ưu điểm mà không thấy khuyết điểm của đối tượng có phải là giá trị và tư cách cần có của một nhà văn đã tự khẳng định “Tôi vốn không đủ khả năng sáng tác hoàn toàn dựa vào trí tưởng tượng. Mọi cuốn sách tôi viết đều xây dựng trên một câu chuyện thực”?

MẶC GIAO