Ba Mươi Tháng Tư
Nghĩ gì? & Làm gì?
Trần Phong Vũ
I.- Một ngày để nhớ:
Đối với tuyệt đại đa số người Việt
trong các cộng đồng tị nạn cộng sản ở hải ngoại, ngày 30 tháng tư hàng năm quả
là một ngày đáng ghi nhớ -dĩ nhiên, ghi nhớ để buồn thương cho số phận của đất
nước, của dân tộc… và của chính mình. Bởi vì, khởi đi từ ngày 30-4-1975, kẻ
trước người sau, ước tính không dưới 3 triệu người dân Việt đã phải bỏ xứ sở ra
đi, tán lạc khắp bốn phương trời hải ngoại. Đấy là chưa kể tới con số nhiều trăm
ngàn đồng bào bất hạnh khác đã không tới được bến bờ tự do! Hoặc bỏ thây ở những
khu rừng già Cao Miên, Thái Lan trong nỗ lực vượt thoát bằng đường bộ. Hoặc bị
mất xác giữa lòng đại dương hay bị hải tặc bắt đi biệt tích trong những chuyến
đi gian nan qua đường biển. Chẳng có thống kê nào cho biết số nạn nhân chính xác,
nhưng điều chắc chắn là không dưới con số cả trăm ngàn!
Liệu có cần nói thêm đến hàng trăm
ngàn đồng bào khác, thuộc đủ mọi thành phần quân-dân-cán-chính, kể cả tu sĩ
thuộc mọi tôn giáo ở miền nam, sau Tháng-Tư-Đen đã bị đẩy vào các nhà tù trá
hình mang danh trại “cải tạo” được dựng lên khắp nước. Kẻ 5, 7 năm, người 10,
15, 17 năm! Cũng có những nạn nhân cho đến hôm nay, sau hơn ba thập niên dài dặc,
vẫn biệt tăm biệt tích! Họ đã chết hay vẫn còn bị đảng và nhà nước cộng sản đọa
đày đâu đó!?
Và cũng từ cái ngày oan nghiệt ấy,
bên cạnh những khu biệt thự sang trọng, những cao ốc khang trang mà chủ nhân ông
là thiểu số lãnh tụ và những đại-gia-tư-bản-đỏ, trên 80 triệu đồng bào trong
nước đang bị nhận chìm trong cảnh sống tối tăm, tủi nhục, thiếu cơm, thiếu áo,
thiếu tự do, nhân quyền, nhân phẩm bị chà đạp. Trong số này còn có hàng chục
ngàn thanh niên, thiếu nữ bị bán sức lao động cho ngoại bang!
Như thế, ngày 30 tháng tư dương lịch
hàng năm quả là một ngày đáng để toàn dân Việt Nam, ở trong cũng như ngoài nước
tưởng niệm, ghi nhớ. Không cần phải có một cố gắng nào, tự nó đã khắc sâu trong
tâm tưởng mỗi nạn nhân của chế độ bạo tàn cộng sản, dù ở quốc nội hay đang sống
kiếp lưu vong nơi xứ người.
Nhưng hẳn không chỉ là ghi nhớ và
tưởng niệm.
II.- Một ngày để suy tư về Việt
Nam hôm nay:
Một Việt Nam bên bờ vực thẳm
Kể từ 30-4-1975, toàn thể lãnh thổ
Việt Nam bị đặt dưới sự lãnh đạo của một tập đoàn những kẻ bất nhân, bất tài,
thất đức thuộc trung ương đảng bộ cộng sàn:
* Chúng đã nhân danh người vô sản để
thu gom ruộng vườn, đất đai, nhà cửa, sản nghiệp của tư nhân, của các tổ chức,
hiệp hội, tôn giáo nói là để chia cho người nghèo. Nhưng thực tế, chúng đã cùng
nhau chia chác để sống một cuộc đời vương giả trên những mảnh đời tang thương,
rách nát, đói cơm thiếu áo, mất tự do, nhân phẩm của hơn 80 triệu đồng bào ở
quốc nội.
* Nhân danh người lao động cùng khổ
để xây dựng đảng cộng sản dưới cái chiêu bài gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa”, ngày
nay, 15 tay gộc trong Bắc Bộ Phủ đã công nhiên phản bội lại giới này khiến cho
cả triệu công nhân đang bị vắt kiệt sức lao động bởi những chủ nhân ông ngoại
quốc. Những cuộc đình công triền miên với sự tham dự của hàng chục, hàng trăm
ngàn công nhân tại các khu chế xuất, các doanh nghiệp ở Sàigòn, Hànội, Hải Phòng,
Đà Nẵng, bất chấp sự canh chừng của các công đoàn nhà nước, đã giúp cho công
luận thấy được tình trạng khốn cùng của mấy chục triệu người dân lao động Việt
Nam hôm nay.
* Để trả nợ quan thày Bắc Kinh trong
những năm được viện trợ vũ khí, bom đạn để theo đuổi cuộc trường chinh xâm lược
miền Nam, nướng cả triệu thanh niên vào cuộc chiến, gây nên cảnh chết chóc đau
thương, tan cửa nát nhà cho biết bao gia đình nạn nhân ở miền nam vĩ tuyến 17,
ngày nay chúng công khai bán đứng lãnh thổ và lãnh hải cho kẻ thù truyền kiếp
của dân tộc:
1.- Vẽ lại bản đồ ranh giới để
chính thức dâng hiến Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và hàng chục ngàn cây số vuông
đất đai của cha ông cho Trung Cộng!
2.- Nhắm mắt để cho Bắc Kinh công
khai sáp nhập hai đảo Trường Sa và Trường Sa vào quận Tam Sa của chúng.
3.- Bất chấp sự công phẫn của nhân
dân, kể cả những thành phần trong đảng, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng,
với sự đồng tình của Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, đã thỏa thuận cho hàng
ngàn người Hoa tràn vào Tây Nguyên khai thác mỏ Bô-Xít, tác hại cho môi sinh, đe
dọa sinh mạng của đồng bào địa phương, trong mưu toan mở đường cho mưu đồ bành
trướng để Hán hóa đất nước ta!
Để khóa miệng đồng thời bịt mắt người
dân, họ mở chiến dịch:
Một mặt huy động các lực lượng an ninh công an cảnh sát vũ trang rình mò, khủng
bố, bắt bớ những người lên tiếng đối kháng, cho dẫu bằng những phương tiện ôn
hòa, không vượt ra ngoài những quy định của công pháp quốc tế, kể cả cái gọi là
Hiến Pháp của chế độ.
Mặt khác, họ dùng 600 tờ báo và cả
chục đài phát thanh, phát hình để tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật. Kết
quả là những con người kiên cường, bất khuất như các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê
Thị Công Nhân, linh mục Nguyễn Văn Lý, cô Phạm Thị Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn
Xuân Nghĩa, nhà báo Nguyễn Văn Hải tức Blogger Điếu Cày cùng với nhiều tên tuổi
khác đã bị đẩy vào nhà tù.
Hệ quả của vụ xử 8 giáo dân Thái Hà
qua thái độ hành xử phi luật pháp của hệ thống pháp lý, báo chí truyền thông
Hànội (dẫn tới việc các nạn nhân quyết định kháng cáo và khởi tố tờ Hànội Mới và
kênh truyền hình VTV1 vì có những bài tường thuật xuyên tạc vẫn trong tình trạng
nhập nhằng thiếu minh bạch) và vụ công an quận Gò Vập công khai dùng áp lực
cưỡng chế luật sư Lê Trần Luật không cho ông lên phi cơ ra Hànội hôm 03-3-2009
cùng những hành vi khám xét bắt bớ nhân viên văn phòng của ông những ngày sau đó…
cũng là những vấn để để mọi người phải suy tư nhân ngày 30 tháng tư năm nay.
Một Việt Nam bất khuất
Cho dù những khó khăn, cay nghiệt
chất chồng;
Cho dù bị rình mò, bị đe họa, khủng
bố, đàn áp, kể cả tù đày và sự an toàn sinh mạng;
Cao trào đấu tranh của quần chúng
chống lại sự ác ở trong nước vẫn tiếp tục dâng cao và đang bước vào giai đoạn
quyết liệt.
Từ giai đoạn đấu tranh tố giác những
hành vi tán ác, độc tài phi dân chủ, xúc phạm nhân quyền, nhân phảm của đảng và
nhà nước cộng sản do những cá nhân, những nhóm nhỏ mang tính cục bộ chủ trương,
trong thời gian gần đây nỗ lực đấu tranh của đồng bào quốc nội đã chuyển vào một
tư thế mới mang tính tập thể và đồng bộ: tư thế quần chúng.
Khởi đầu là những đợt nông dân từ
khắp các tỉnh miền Bắc lũ lượt kéo về vườn hoa Mai Xuân Thưởng ở Hànội và bà con
thuộc các tỉnh hậu giang, tiền giáng ở miền Nam tìm vể văn phòng 2 Quốc Hội ở
Sàigòn để khiếu kiện đòi lại tài sản, đất đai đã bị đảng và nhà nước cướp trắng.
Tiếp đến là những buổi cầu nguyện với sự hướng dẫn của đông đảo linh mục, tu sĩ,
có lúc lên tới cả chục ngàn giáo dân ở Tòa Khâm Sứ cũ, ở giáo xứ Thái Hà, Hànội,
ở Dòng Chúa Cứu Thế đường Kỳ Đồng Sàigòn để đòi phục hồi công lý, nhân quyền và
nhân phẩm Việt Nam. Và gần đây nhất là những cuộc biểu tình, rải truyền đơn,
treo biểu ngữ tại những nơi công cộng ở Sàigòn, Hànội và các tỉnh thị do tập thể
thanh niên, sinh viên chủ trương với mục tiêu chống âm mưu xâm lăng lãnh thổ,
lãnh hải của Trung Cộng, và qua đó gián tiếp cảnh cáo ý đồ bán nước, nhượng bộ
kẻ thù phương bắc của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.
Đây là những hiện tượng cấm kỵ trong
các chế độ cộng sản. Nhưng nó đã thực sự xảy ra dưới ánh sáng mặt trời, trước sự
chứng kiến của công luận và đã được thu vào ống kính của truyền thông quốc tế.
Nó xảy ra không chỉ một hay hai ngày, mà trong nhiều tháng ngày liên tiếp.
Giới trí thức, đặc biệt là giới luật
sư đã bắt đầu có những động thái ngoạn mục. Khởi đâu là các luật sư Nguyễn Văn
Đài, Lê Thị Công Nhân quyết liệt lên tiếng, chấp nhận ngồi tù, dứt khoát không
khuất phục bạo quyền. Tiếp theo là tiếng nói của luật sư Trần Lâm và gần đây
nhất là luật sư Lê Trần Luật và toàn thể các luật sư và nhân viên trong văn
phòng Luật sư Pháp quyền của ông dấn thân bảo vệ những nhà dân chủ ở miền Bắc,
công khai đứng ra bào chữa cho 8 giáo dân Thái Hà, can đảm đương đầu với mọi thủ
đoạn đe noi, khủng bố trắng của đảng và nhà nước cộng sản xuyên qua những hành
vi công an vũ trang áp giải ông ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhật không cho lên
phi cơ ra Hànội tiếp xúc với thân chủ, cũng như xuyên qua trường hợp bà Tạ Phong
Tần và luật sư Nguyễn Quốc Đạt thuộc văn phòng ông cũng bị khủng bố… cho thấy
những chỉ dấu lạc quan đã xuất hiện trong hàng ngũ những người am tường luật
pháp, và nói chung giới trí thức ở quốc nội hiện nay. Trong khi nhà nước càng
ngày càng tỏ ra khiếp nhược trước kẻ thù phương Bắc, cam tâm bán đất, dâng biển
cho Bắc Kinh thì giới luật gia Việt Nam đã nối tiếp nhau đứng dậy theo gương nhà
tranh đấu lừng danh của Trung quốc Cao Trí Thịnh, một luật sư đã hiến trọn cuộc
đời cho lý tưởng bảo vệ công lý và sự thật cho đồng bào ông qua những lần tự
nguyện bào chữa cho các tín đồ Pháp Luân Công và các tín đồ Kitô Giáo. Bất chấp
những đòn thù của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh trong nhiều đợt bị giam giữ kể
cả hiện nay ông đang bị hành hạ trong ngục tối, ông vẫn nêu cao khí tiết của
người trí thức mang biểu tượng bậc đại trượng phu thời cổ là “uy vũ bất năng
khuất”. Được biết để tránh những đòn thù tiểu nhân của cơ quan mật vụ Bắc Kinh,
vợ con luật sư Cao Trí Thịnh đã được những bạn bè đồng chí hướng liều thân đưa
trốn qua Thái Lan và hiện đã xin tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ.
Điều quan trọng là con số những đảng
viên cộng sản và những viên chức nhà nước bỏ đảng, bỏ cơ quan cũng tăng theo cấp
số nhân. Nguồn tin từ trong nước cho hay trong thời gian qua đã có tới trên 7000
cán bộ trung cấp từ trung ương tới địa phương đã tự ý rời bỏ nhiệm sở ra làm ăn
với các công ty tư nhân do người ngoại quốc làm chủ. Cùng lúc nhiều ngàn viên
chức có trách nhiệm gìn giữ an ninh tại nông thôn cũng đã bỏ về với ruộng vườn
sau khi phát hiện đối tượng rình mò, theo dõi của họ không ai khác hơn là chính
thân nhân, láng giềng của họ. Trong khi ấy, con số những đảng viên cộng sản thâm
niên, kể cả những thành phần có địa vị trong cơ chế đảng và nhà nước công khai
lên tiếng chống báng hoặc trả lại thẻ đảng cũng tiếp tục tăng lên. Tiêu biểu như
cố giáo sư Hoàng Minh Chính hoặc cựu tướng Trần Độ. Những nhà thơ nhà văn như
Chế Lan Viên, Nguyễn Khải từng một thời cúc cung tận tụy phục vụ đảng, nhưng khi
chết đã để lại những bài thơ, những trang hồi ký vạch trần bộ mặt thật phản dân
hại nước của chế độ đương quyền dưới sự chỉ đạo sắt máu của đảng cộng sản. Câu
“Sống không thể nói, Chết mới được ra lời” ứng vào trường hợp Chế Lan Viên và
Nguyễn Khải không còn gì chính xác hơn.
Trong khi ấy, cũng không thiếu những
người tuy còn đang phải sống trong lòng chế độ đã vượt qua được nỗi sợ hãi
thường tình để can đảm cất lên tiếng nói trung thực của mình. Chúng tôi muốn nói
tới những nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng (hiện đang bị cộng sản bỏ tù),
Vũ Cao Quận, Bùi Ngọc Tấn, Tạ Duy Anh. Ngoài ra, chúng tôi cũng muốn nói tới
người nhạc sĩ lão thành từng có mặt ngay từ những ngày đầu khi cộng sản còn ngụy
trang dưới nhãn hiệu Việt Minh là nhạc sĩ Tô Hải. Năm nay ông đã 83 tuổi. Hơn
một thập niên trước, năm 1995 ông khởi sự viết tác phẩm có tên là “Hồi ký của
một thằng hèn”. Sở dĩ ông đặt cho tác phẩm của ông một cái tên lạ thường như vậy
là mỗi khi duyệt lại những trang đã viết ông vẫn thấy tuồng như ông chưa vượt ra
khỏi được nỗi sợ hãi “hèn hạ” luôn ám ảnh mình khiến cho khi viết phải cân nhắc,
dè dặt, không dám nói hết những điều mình nghĩ và những sự kiện mình đã kinh qua
trong mấy chục năm sống trong đảng, nhất là viết xong đã lâu mà chưa đủ can đảm
để gửi tới người đọc. Nhưng cuối cùng vào cuối năm 2008, bản thảo “Hồi ký của
một thằng hèn” đã tới tay những người chủ trương tủ sách Tiếng Quê Hương. Tô Hải
đích thân nhờ tủ sách ấn hành để giới thiệu đứa con tinh thần được viết nên bằng
máu và nước mắt của ông đến với độc giả hải ngoại. Nếu không có gì trở ngại vào
phút chót, tác phẩm hi hữu này sẽ đến tay người đọc vào cuối Tháng-Tư-Đen 2009.
Đọc tác phẩm của Tô Hải chúng ta sẽ
nhận ra hai điều.
Thứ nhất: trong hàng ngũ những đảng viên kỳ cựu của đảng CSVN, theo nhận định
của tác giả họ Tô, tuyệt đại đa số đã hoàn toàn chán đảng, chỉ chờ có dịp, nhất
là khi loại bỏ được cái mặc cảm sợ hãi, là nhất loạt sẽ quay lưng lại với đảng.
Và thứ hai: qua chứng từ của tác giả
cho thấy dù trong cảnh ngộ nào tinh thần bất khuất của dân tộc vẫn tiềm tàng
trong huyết quản mọi người. Và đấy cũng là điều để chúng ta suy gẫm nhân 30-4
năm nay.
III.- Một ngày để quyết tâm
Buồn, đau, tiếc, hận là những tình
cảm tự nhiên của chúng ta mỗi khi nghĩ về Tháng –Tư-Đen. Nhưng những tình cảm ấy
chỉ có giá trị tích cực khi mỗi người biết chuyển hóa nó thành hành động, trong
quyết tâm dứt bỏ chế độ tham tàn, bạo ngược cộng sản để xây dựng một nước Việt
Nam mới, trong đó mọi người dân được sống trong một thể chế tự do, nhân quyền,
nhân phẩm được bảo đảm.
Nhận định rằng cuộc đấu tranh chống
cộng của toàn dân Việt Nam hôm nay đã chuyển vào một tư thế mới. Từ giai đoạn cá
nhân, cục bộ, nó đã đi vào thế quần chúng. Cái ám ảnh về nỗi sợ hãi bị rình mò,
khủng bố thuở nào đã giảm bớt. Những người Dân Oan bị tước đoạt ruộng vườn, tài
sản, tín đồ các tôn giáo bị cấm cách hoặc bị xách nhiễu trong khi bày tỏ niềm
tin đã dám công khai bày tỏ lập trường, quan điểm của mình. Họ trông chờ rất
nhiều ở sự tiếp tay của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, không chỉ bằng
những trợ giúp vật chất, bạc tiền mà còn là những yểm trở về mặt tinh thần cùng
những nỗ lực vận động dư luận quốc tế.
Chúng ta vẫn cần có những cuộc biểu
tình để bày tỏ lập trường dứt khoát với bạo quyền cộng sản và bọn tay sai. Nhưng,
nếu chỉ có thế thì vẫn chưa đủ. Một cách thiết thực, từng người, từng gia đình
phải là những chiến sĩ hậu phương để khi cần sẵn sàng đóng góp phương tiện gửi
về tiếp trợ cho những cá nhân cũng như các phong trào đấu tranh ở quốc nội.
Trong dịp Tháng-Tư-Đen năm nay, một số tổ chức có sáng kiến phát động chiến dịch
dứt khoát không về cũng không gửi tiền bạc về trong nước. Đây là một hành động
mang tính biểu tượng để nói cho đảng và nhà nước cộng sản thấy ý chí kết đòan
của tập thể người Việt chúng ta ở hả ngoại. Điều này không hề có ý nghĩa là ngăn
cản mọi người không được về thăm quê hương và người thân.
Trong nỗ lực góp phần một cách cụ thể
và thiết thực vào cuộc đấu tranh chung, về thăm quê hương, thân nhân, bằng hữu
cũng là một cách để biểu lộ tinh thần của người quốc gia không chấp nhận chế độ
cộng sản, miễn sao khi về chúng ta đừng bao giờ quên mình là người tị nạn, từng
một thời là nạn nhân của chế độ đương quyền khiến phải bỏ xứ sở ra đi. Không ai
đòi buộc những người về phải tham gia trực tiếp vào những cuộc đấu tranh chống
chế độ, kể cả bằng lời nói có thể dẫn tới những hệ lụy cho sự an toàn cá nhân.
Với ý thức của người tị nạn cộng sản,
trong khi xử kỷ tiếp vật, luôn giữ lối sống chừng mực, dứt khoát loại bỏ thái độ
huênh hoang “áo gấm về làng” của những kẻ vô lương tâm, “ăn cháo đá bát”, cậy có
tiền mang về để ăn chơi thỏa thích, chà đạp lên nỗi đau của đồng báo. Đừng bao
giờ quên rằng mình đang là cư dân của các quốc gia tự do, dân chủ. Hãy sống xứng
đáng với tư cách ấy. Hãy thẳng thắn cho thân nhân, bạn bè và mọi người biết mình
đã và đang sống ra sao tại các quốc gia tạm dung. Chính từ đấy gián tiếp cho
đồng bào quốc nối thấy được cuộc sống tù túng, bất hạnh mà họ đang phải đối diện
từng ngày từng giờ trên quê hương.
Mời độc giả đọc bài viết của tác giả Mặc Giao trong mục Viết Từ Canada trên DĐGD
số này để hiểu rõ đường đi nước bước của chúng ta trong giai đoạn này.
1. Tìm đọc hồi ký “Đi tìm cái tôi đã mất” của Nguyễn Khải.
2. Tìm đọc những tác phẩm “Gửi lại trước khi về cõi” của Vũ Cao Quận, ‘Chuyện kể
năm 2000”, “Viết về bè bạn”, “Vũ trụ không cùng” của Bùi Ngọc Tấn, “Đi tìm nhân
vật”, “Sinh ra để chết” của Tạ Duy Anh. Trừ cuốn “Chuyện kể năm 2000”, tất cả
những tác phẩm này đều do tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành. Muốn có sách xin liên
lạc về tòa soan DĐGD.