Hồng Y Phạm Đình Tụng & Di sản của
một Mục Tử Nhân Lành
Phạm Hoàng Nghị
Ngày 27 tháng 2 vừa qua, hàng chục ngàn giáo dân Việt, đầu chít khăn tang trắng,
đã cùng với hàng giáo sĩ, tiễn đưa về Nhà Cha một người đã suốt đời tận tụy thờ
kính Chúa, bảo vệ Giáo hội và phục vụ dân Người. Con người có vóc dáng mảnh
khảnh, nhỏ bé, chưa từng một ngày được du học tại nước ngoài, không đỗ đạt những
bằng cấp cao, không để lại những bài giảng thuyết uyên bác hùng hồn, những công
trình xây dựng lớn lao, nhưng lại được mọi người xưng tụng là người cha, người
thày, là vị mục tử nhân lành, nhà tu hành mẫu mực, là một lãnh tụ tôn giáo khôn
ngoan, là cây đại thụ của Giáo hội Công giáo Miền Bắc, là chứng nhân của Giáo
hội VN từ nửa sau thế kỷ 20, và là vị anh hùng của Giáo Hội.
Hồng y Phạm đình Tụng đã làm những gì để nhận được lòng thương mến của mọi người
và những lời ngợi ca như thế?
Người con của nương đồng rẫy bái
Hồng Y Phaolô-Giuse Phạm Đình Tụng,
sinh ngày 20-05-1919, trong một gia đình Công giáo đạo hạnh tại thôn Bình Hào,
xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, thuộc giáo họ Cầu Mễ, giáo xứ Quảng
Nạp, giáo phận Phát Diệm. Thân phụ ngài là cụ Phêrô Phạm Văn Hiến, một người đạo
đức và có học trong làng, còn thân mẫu Anna Nguyễn Thị Bống là người hiền lành,
chân chất, giầu lòng hy sinh và bác ái.
Cầu Mễ cũng như Quảng Nạp là những
vùng nông thôn xa thành phố, đa số dân chúng sinh sống bằng nghề nông, canh tác
rẫy bái để trồng lúa trồng khoai và vun quén những cây chè xanh tươi trên các
sườn đồi. Từ nhỏ, sống trong nếp sinh hoạt nông thôn, và chịu ảnh hưởng của song
thân nên suốt đời, dù sau này với gần 80 năm tu học và phục vụ Giáo hội nơi
những miền thành thị và giữ những chức vụ cao cấp nhất, ngài vẫn luôn lduy trì
được nếp sống giản dị, khiêm tốn và tinh thần khó nghèo của một bậc chân tu.
Trải qua những ngày học tập chăm chỉ
tại trường làng và trường Kẻ Sét nơi linh mục nghĩa phụ Phạm Bá Trực bảo dưỡng,
ngài vào tu học tại Trường Tập Hà Nội (1929), Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên
(1931-1939), đại chủng viện Liễu Giai (1940-1945).
Người kiên trì bước theo ơn gọi
Vì Đại chủng viện bị chiếm đóng sau
những ngày đất nước xáo trộn và chiến tranh bùng nổ tại Hà nội (1946), các chủng
sinh mỗi người tản mác một nơi, ngài phải trở về nguyên quán để tá túc qua ngày.
Tại nhà song thân, ngài sống trong trong tâm cảm mong chờ, lo lắng, không biết
tương lai và ơn gọi tu trì sẽ ra sao giữa một đất nước ly loạn. Tuy vậy, ngài
cũng nhiệt tâm giúp đỡ mọi người trong họ đạo, trợ lực cha xứ trong những công
tác mục vụ và giáo dục trẻ em nơi bản quán.
Suốt hơn hai năm dài chờ đợi trong lo
âu, cuối cùng, khi nghe được tin các trường học ở Hà nội đã mở cửa lại, ngài bất
chấp mọi gian nan nguy hiểm trên đường lẩn trốn từ miền quê (vùng Việt Minh kiểm
soát) để quyết định về thành, hy vọng tiếp tục con đường tu học còn dở dang. Năm
1948 ngài vào được Hà nội và tiếp tục học khoa thần học, để đến ngày 6-6-1949
được thụ phong linh mục.
Người dấn thân hoạt động xã hội
Vừa lãnh nhận chức vụ linh mục, ngài
đã dấn thân vào những hoạt động xã hội, nhận việc coi sóc Cô nhi viện Têrêxa tại
Quần Ngựa do Đức cha Paul Seitz - khi ấy hãy còn là linh mục - sáng lập và đang
làm giám đốc.
Năm 1950, ngài được bổ nhiệm làm Phó
xứ rồi làm Chính xứ Hàm Long thay thế cha Trịnh Như Khuê trở thành giám mục Hà
Nội. Tại đây, ngoài công tác mục vụ thông thường, ngài còn giúp đỡ các học sinh
nghèo tại trường Trần Văn Thưởng và Nhà Bác ái Thánh Vinh Sơn, là hai cơ sở giáo
dục và từ thiện của giáo xứ Hàm Long lúc đó.
Năm 1953, ngài thành lập Trung tâm
Bái ái-Xã hội Bạch Mai, trên khu đất khoảng 4000 mét vuông, nhằm trợ giúp những
người khốn khổ trôi dạt về từ các vùng nông thôn đang bị chiến tranh tàn phá.
Người kiên trì bảo vệ sự độc lập của Giáo hội
Năm 1955, ngài được bổ nhiệm làm Giám
đốc Tiểu Chủng viện Thánh Gioan Hà Nội, một tiểu chủng viện liên giáo phận với
hơn 200 chủng sinh thuộc hầu hết các giáo phận Miền Bắc lúc bấy giờ. Trong số
này về sau có hơn 60 người làm linh mục, và 3 vị được tấn phong giám mục.
Năm 1960, vì muốn bảo vệ sự độc lập
của Giáo Hội trong lãnh vực đào tạo giáo sĩ, vì không muốn các chủng sinh phải
giao tiếp với các giáo viên đến từ bên ngoài và học những môn học nguy hiểm cho
đức tin và cho đời tu mà nhà nước áp đặt trong chương trình, ngài đã cùng các vị
hữu trách quyết định cho các chủng sinh về lại các giáo phận của mình, chấp nhận
giải tán tiểu chủng viện. Đây là một quyết định cực kỳ khó khăn, nhưng cương
quyết, mà sau này các giáo phận ở Miền Nam, do sự khống chế của nhóm linh mục
quốc doanh –đứng đầu là “tứ nhân bang” Minh-Cần-Từ-Bích- đã không thực hiện được.
Tại các chủng viện, nhà nước cho giáo
viên vào giảng dạy bộ môn Mácxít–Lêninít cho các chủng sinh, dù ai cũng biết là
hệ thống chủng viện không có nhu cầu này. Điều nghịch lý là học thuyết Mác–Lênin
chủ trương vô tôn giáo lại được áp đặt vào việc đào tạo của một tôn giáo! Việc
này đã xẩy ra hàng bao năm nay và hiện vẫn còn tiếp diễn, tiền lương cho giáo
viên lại do các chủng viện chi trả!
Người củng cố Giáo hội và làm mục vụ bằng văn hóa
Năm 1963, ngài đuợc Toà Thánh bổ
nhiệm làm Giám mục Giáo phận Bắc Ninh, một địa phận rộng lớn, trống toà từ năm
1954 và có phần lớn diện tích trước kia nằm trong vùng kháng chiến. Giữa những
khó khăn trùng điệp, ngài đã chọn cho mình khẩu hiệu: “Chúng con tin ở tình yêu
Thiên Chúa” làm hành trang lên đường thi hành sứ vụ.
Mới đến nơi, ngài bắt tay sáng lập Tu
hội Đức Mẹ Hiệp Nhất Bắc Ninh nhằm giúp các chị em tận hiến có điều kiện làm
tông đồ tại các xứ đạo và tại các môi trường khác nhau. Ngài cũng kín đáo đào
tạo các chủng sinh cho Giáo phận. Năm 1974, ngài đã âm thầm truyền chức linh mục
cho 7 thầy bất chấp những nguy hiểm mà chính quyền có thể gây ra cho các tân
chức và cho bản thân mình. Ngài còn trao chức thánh cho một số ứng viên các giáo
phận khác ở Miền Bắc, trong đó có cả việc truyền chức giám mục kín đáo năm 1979
cho Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, Giám mục Lạng Sơn.
Trong hoàn cảnh khó khăn vì thiếu
thốn linh mục, ngài còn nhận trọng trách bí mật đào tạo các Đại chủng sinh của
Tổng Giáo phận Hà Nội, những người lúc này, vì hoàn cảnh xã hội, đang phải sống
tản mác tại gia đình.
Tại giáo phận Bắc Ninh, ngài đã đào
tạo tông đồ giáo dân, củng cố các Ban Hành giáo, tổ chức các hội đoàn, quảng bá
lòng sùng kính Thánh Tâm và lòng tôn kính Đức Mẹ, canh tân và thích nghi các
kinh sách trong Giáo phận.
Trong khung cảnh Giáo hội bị cấm cản
về phương diện xuất bản và truyền thông, ngài đã soạn thảo Kinh thánh và giáo lý
dưới hình thức thơ ca, hò, vè nhằm phổ biến dễ dàng, rộng rãi và hiệu quả Lời
Chúa và giáo lý tới các tầng lớp giáo dân, vốn là những người ít học. Điển hình
trong các sáng tác của ngài là chuyển thể Phúc âm thành 552 câu thơ song thất
lục bát, mang tên “Cuộc Đời Chúa Kitô”. Với bản tính khiêm nhường cố hữu, ngài
cho rằng vì mình tài hèn sức mọn nên chỉ mới chuyển tải được phần nào phần nhân
bản và minh triết của Tin Mừng. Thêm vào đó, còn những bài thơ ngắn khác như
Kinh Tin Kính, Ca Nhiệm Tích (7 bài thơ về các bí tích), Kinh dọn mình hiệp lễ,
Kinh cám ơn hiệp lễ, Thánh vịnh sám hối …được ngài sáng tác bằng thơ lục bát để
giúp giáo dân dễ học dễ nhớ. Những câu thơ rất trong sáng dễ hiểu, vần điệu rất
bình dân, ở nhà thờ nào người lớn trẻ con cũng thuộc lòng, không chỉ ở Bắc Ninh
mà đã lan ra các giáo phận khác. Ước nguyện của ngài còn là diễn đạt những dụ
ngôn trong Tin mừng bằng những làn hơi quan họ. Về sau, trong thực tế, những làn
điệu quan họ cũng đã du nhập vào sinh hoạt cộng đồng của người Công giáo. Những
năm sau này, ở La Vang, ở Hà Nội, trong những dịp đại lễ, dụ ngôn Tin Mừng được
hát lên, được “diễn nguyện” bằng quan họ, đã gặt hái nhiều thành công. Giữa
những khung cảnh huy hoàng đó, thật thú vị khi nghĩ tới những công phu nghệ
thuật ấy đã bắt đầu trong thiếu thốn, nghèo khó như thế nào, cũng như cảm phục
tầm nhìn xa trông rộng của những con người muốn làm mục vụ bằng văn hóa.
Cũng bằng những sáng kiến mục vụ độc
đáo, ngài đã biến toà Giám mục trở thành một mái ấm gia đình, nơi chủ chăn và
đoàn chiên gặp nhau, cùng chia vui sẻ buồn. Toà Giám mục còn là trung tâm mục vụ,
nơi đoàn chiên liên tục được đào tạo và bồi dưỡng đức tin, bất chấp những cấm
cản của nhà cầm quyền đương thời. Nhờ vậy, dù qua những thập niên chuyên chính
vô sản một cách cực đoan, dù thiếu thốn linh mục, giáo dân Bắc Ninh ngày nay vẫn
là những người có lòng tin kiên vững, sống đạo đức, nhiệt thành và hết lòng yêu
mến Giáo Hội.
Tất cả những hoạt động suốt 30 năm
trời đó tại Bắc Ninh là những hoạt động âm thầm của một người nằm trong tình
trạng bị quản thúc, bị hạn chế đi lại, và dưới quyền chỉ còn có một linh mục
rưỡi. Nói “rưỡi” là vì có hai linh mục thì có một được phong chức “chui” nên
không thể hoạt động công khai. Câu chuyện giám mục và một linh mục rưỡi đã được
nêu lên giữa Thượng Hội đồng giám mục thế giới để minh họa cho hoàn cảnh khắc
nghiệt nhưng sức sống bền bỉ của người Công giáo miền Bắc Việt nam.
Người xây dựng giáo phận với viễn kiến mới mẻ, bất chấp tuổi già sức yếu
Ngày 04-07-1990 Toà Thánh đặt ngài
làm Giám quản Tổng Giáo phận Hà Nội, kiêm Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội
(1990-2003). Ngày 23-04-1994, vào tuổi 75, thay vì được nghỉ hưu theo Giáo luật,
Toà Thánh lại bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám Mục Hà Nội.
Đến ngày 26-11-1994 ngài được ĐGH
Gioan Phaolô II phong tước Hồng Y tại Rôma. Ngoài ra, ngài còn nắm các chức vụ
quan trọng khác như Chủ tịch HĐGM Việt Nam (1995-2001), Giám quản Giáo phận Lạng
Sơn (1998-1999), thành viên Bộ Truyền giáo và thành viên Hội đồng Đồng Tâm của
Toà Thánh (1995-2003).
Vậy là Ngài cứ phải chạy đi chạy lại
như con thoi, thoắt ở nơi này, thoắt ở nơi kia. Địa bàn giáo phận Hà Nội đã rộng,
giáo tỉnh Hà Nội càng rộng mênh mông.
Sức làm việc của con người nhỏ bé này
thật phi thường vượt xa vóc dáng về thể chất. Ngày 14-3-1999, người ta thấy ngài
ở Bùi Chu để chia sẻ về việc đức cha Vũ Duy Nhất đã già yếu chưa có người thay
thế. Sáng ngày 15-3, đã thấy ngài chủ sự tang lễ Đức cha Hải Phòng và buổi chiều
đã về Hà Nội để làm việc với phái đoàn của Toà thánh do Đức ông Cetetino
Migiliore đẫn đầu.
Cùng với việc liên tục thăm viếng,
gặp gỡ các thành phần dân Chúa trong Tổng Giáo Phận Hà Nội, đứng trước tình
trạng thiếu thốn nhân sự nghiêm trọng, ngài đã tìm cách gia tăng số linh mục, tu
sĩ bằng nhiều cách, như thu xếp để các thầy lớn tuổi ở Hà Nội, cũng như các giáo
phận miền Bắc khác, được theo học các khóa bổ túc, ngắn hạn tại Đại Chủng viện
rồi sớm truyền chức linh mục cho họ để có điều kiện phục vụ đoàn chiên đông đảo.
Ngài cũng nỗ lực cải cách và tái
thiết Đại Chủng viện Hà Nội về cơ sở vật chất và quy mô đào tạo. Từ đầu những
năm 1990, nhờ ngài sắp xếp, một số linh mục có khả năng chuyên môn đã từ miền
Nam ra làm giáo sư thỉnh giảng, hoặc giáo sư thường trực. Đi xa hơn, trong tư
cách Chủ tịch HĐGM Việt Nam, ngài đã đấu tranh để từ năm 1995, các Đại Chủng
viện trên cả nước được tuyển sinh 2 năm một khóa thay vì 6 năm như trước.
Ngài còn nâng đỡ ơn gọi tu trì để đảm
bảo nhân sự phục vụ, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong Tổng Giáo phận. Nhờ
sự hướng dẫn của ngài, từ đầu những năm 1990, Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội hằng năm
liên tục tuyển sinh, mở tập viện và khấn dòng. Ngài còn lập ra Tu đoàn Nam
Truyền Tin (1996) và Tu đoàn Nữ Truyền Tin (2002) nhằm mục đích truyền giáo. Hơn
nữa, bất chấp ý muốn của chính quyền, ngài còn duy trì được sự hiện diện của
Dòng Chúa Cứu Thế ở Thái Hà và mở đường cho sự hiện diện của Dòng Salesien Don
Bosco ở Hà Nội.
Nhằm xây dựng Tổng Giáo Phận Hà Nội
lâu dài trong tương lai, từ giữa những năm 1990, ngài đã gửi một số linh mục đi
du học ngọai quốc. Một số vị đã trở về nắm giữ các trọng trách trong Đại Chủng
viện như Đức cha Đặng Đức Ngân, Giám mục Lạng Sơn, nguyên Tổng Đại diện và
nguyên Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội; Đức cha Chu Văn Minh, Giám mục Phụ tá
Tổng Giáo Phận Hà Nội kiêm Giám đốc Đại Chủng viện.
Ngài đặc biệt lưu tâm đến việc trau
dồi đời sống đạo đức cho giáo dân, giáo dục thế hệ trẻ và làm việc bác ái xã hội.
Trong chiều hướng này, bên cạnh những lời kêu gọi, hướng dẫn giáo dân, ngài còn
phục hồi/thành lập một số đoàn thể trong Tổng Giáo Phận như Thiếu Nhi Thánh Thể,
Hội Dòng Ba Phan Sinh, Hội Legio Mariae, Hội Thánh Tâm (1995), Hội Gia đình cùng
theo Chúa (2000), Gia đình Thánh Tâm (2003), Hội Sinh viên Công giáo TGP Hà Nội
(1998).
Năm 1996, ngài lập Tu Hội Anh Em Nhà
Chúa, qui tụ những anh em sống tinh thần Gioan Tẩy Giả: “Hãy dọn đường cho Chúa
đến, và hãy lu mờ đi để Chúa nổi bật lên” (Ga 3, 30).
Tu Hội Nhà Chúa đi theo truyền thống
Hội Thầy Giảng ngày xưa, có mục đích nâng đỡ những anh em có ý muốn tận hiến,
dấn thân làm việc tông đồ trong các xứ đạo hay các môi trường nghề nghiệp và xã
hội của mình. Năm 2004, Hiến Pháp của Tu Hội đã được Tòa thánh chấp thuận, ngày
nay mang danh nghĩa Tu Đoàn Truyền Tin Hà Nội.
Người khơi nguồn cho những cuộc đòi hỏi tài sản của Giáo hội
Khoảng năm 2000, câu chuyện Toà Khâm
sứ Hà Nội đang bị chiếm đoạt để xây khu vui chơi giải trí được xác nhận bằng một
tấm bảng vẽ mô hình khu nhà 7 tầng được căng lên ngoài hàng rào như thách thức
giáo dân Hà Nội và coi thường Toà Tổng Giám mục Hà Nội kế bên.
Trước đó 3 tháng, Hồng y Tụng đã gửi
thư phản đối lên các cấp từ trung ương đến địa phương nhưng không một ai thèm
hồi âm. Thế rồi vào ngày thứ Bẩy và Chủ nhật tuần đó, tất cả các nhà thờ đều
được nghe thư phản đối của chính Hồng Y Phạm Đình Tụng và linh mục đoàn Hà Nội
cùng ký tên gửi các cấp lãnh đạo đảng, nhà nước về sự việc này. Phẫn uất, đồng
loạt các giáo dân cũng nô nức ký tên vào danh sách ủng hộ việc phản đối xây dựng
trên đất của Toà Khâm sứ. Đến lúc ấy, chính quyền mới cho ngừng lại các công
việc, dù dự án đã khởi sự, cọc móng đã đặt xong. Nhưng sau đó, bằng cách này hay
cách khác, người ta dần dần biến chỗ đó thành nơi hoang tàn rồi sử dụng nó với
nhiều hình thức khác nhau.
Quá trình đòi lại Toà Khâm sứ gắn
liền với ngài từ đó.
Ngày 25-1-2008, sau lễ mừng thọ 90
tuổi, 60 năm linh mục và 40 năm giám mục của ngài tại nhà thờ chính tòa, hàng
ngàn giáo dân đã tràn vào khu vực Tòa Khâm sứ cũ trên phố Nhà Chung, để cầu
nguyện đòi chính quyền thành phố trao trả lại tài sản của giáo hội đã bị cưỡng
đoạt. Và từ đây sẽ bắt đầu những buổi cầu nguyện liên tục để đòi lại tòa Khâm sứ.
Từ trên cửa sổ căn phòng, ngài mỗi ngày nhìn xuống đoàn con cái đang kiên cường
giãi nắng dầm mưa để tiếp tục đòi lại tài sản của Giáo hội như ngài đã từng đòi
hỏi.
Nhưng nay ngài mất đi, ước nguyện đó vẫn chưa thành và có lẽ ngài vẫn còn ngậm
ngùi vì một công việc còn dở dang.
Hình ảnh người Mục Tử k khiêm nhu và nhân ái
Với quãng đời hơn 90 năm, đảm đương
đầy đủ các chức vụ trong Giáo hội Việt Nam từ thấp đến cao nhất, nhưng Ngài
không có một lời nào để làm cho mình nổi bật hay tự hào. Ở ngài, đó là sự khiêm
tốn và lòng yêu thương chân thành đối với tất cả mọi người. Với bao con người
tiếp xúc với ngài, từ lớn đến nhỏ, không một ai nhận thấy sự hách dịch hay cung
cách kiêu căng; ở ngài, đó là sự hạ mình và giản dị. Các đức tính đó là những
bài học lớn lao cho nhiều người trong hàng giáo phẩm, tu sĩ cũng như giáo dân.
Hôm nay, cố HY Phaolô-Giuse Phạm Đình
Tụng đã được Thiên Chúa cất về, nhưng hình ảnh của Ngài, tấm gương khiêm nhu, từ
ái của Ngài vẫm mãi mãi sống trong lòng mọI người Công giáo Việt Nam ở trong
cũng như ngoài nước.