Suy Tư Về Sứ Vụ Linh Mục
của Đức Cha Giuse Pham Chí Linh
(Tĩnh tâm Linh Mục đoàn giáo phận Đàlạt 16-22/02/2009)

I.- LINH MỤC VÀ CHÚA GIÊSU
        Đối với linh mục, mối quan hệ căn bản nhất chính là mối quan hệ với Chúa Giêsu. “Kim chỉ Nam thừa tác vụ và đời sống linh mục số 7 viết rằng, “Linh mục phải ý thức rằng đời sống của mình là một mầu nhiệm hoàn toàn đâm rễ nơi mầu nhiệm Đức Kitô”. Ơn gọi linh mục tự bản chất là một mối quan hệ, quan hệ với Chúa Giêsu, Đấng đã kêu gọi và tuyển chọn linh mục. Nói cách khác, chúng ta chỉ thực sự là linh mục khi chúng ta ở trong mối quan hệ với Chúa Giêsu.
        Định nghĩa mối quan hệ đó không phải là chuyện khó vì có rất nhiều sách vở tài liệu bàn về đề tài này. Điều quan trọng đối với chúng ta không phải là định nghĩa quan hệ cho bằng thái độ quan hệ. Làm thế nào để sống mối quan hệ đó trở thành sống động, đó mới là vấn đề chúng ta phải bàn.
        Bao nhiêu anh em linh mục đã ra đi, đã ngã xuống biết đâu chỉ vì mối quan hệ với Chúa Giêsu không đủ nồng nàn và bền chặt trong đời linh mục của các ngài? Cũng rất có thể đời linh mục của chúng ta không mấy an vui chỉ vì Chúa Giêsu chưa có được vị trí ưu tiên.
        Chúng ta hãy dành ra bài suy niệm này để xin Chúa Giêsu giúp chúng ta canh tân được mối tương quan của chúng ta với Ngài, để nhờ đó chúng ta sống ơn gọi và sứ mệnh linh mục của chúng ta cách sâu xa hơn.

1. QUAN HỆ ÂN TÌNH
           Để ám chỉ sự kêu gọi của Chúa, tiếng La-tinh gọi là vocatio. Tiếng Pháp và tiếng Anh cũng dùng chữ vocation, chỉ có nghĩa đơn giản là “sự kêu gọi”. Nội hàm từ ngữ tương đương trong tiếng Việt xem ra phong phú hơn khi có thêm khái niệm “ơn” đi liền với sự kêu gọi. Quả vậy, sự kêu gọi của Chúa tự bản chất là một ơn nhưng không, bởi vì hoàn toàn do hảo tâm của Ngài.
           Bản thân tôi đã cảm nghiệm điều đó cách khá rõ ràng khi chịu chức linh mục. Sau khi Giáo Hoàng Học Viện giải thể năm 1977, tôi bị trả về gia đình làm ăn sinh sống. Hiện tại gian khổ, tương lai mù mịt. Thời gian chờ đợi chức linh mục là cả một cuộc phiêu lưu vô định vì không biết mình sẽ đi về đâu. Bề trên trong giai đoạn đó cũng bó tay. Nhưng may mắn là cuối cùng tôi cũng được chịu chức linh mục. Lúc đó ai cũng tấm tắc khen tôi kiên trì.        Nhưng tôi không hề cảm thấy đó là kết quả sự kiên trì. Tôi ý thức rằng bản thân tôi không thể nào vượt qua một chặng đường chông gai như thế. Tất cả là do hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Bao nhiêu anh em lỗi lạc kẻ trước người sau đã ra đi. Chỉ còn lại mình: kém cỏi, mong manh... Tại sao? Nhờ đâu, nếu không phải là ơn phù trợ của Chúa?
           Nhưng đó không phải là huyền nhiệm ơn gọi của tiêng tôi. Tôi tin rằng hầu hết chúng ta đều cảm nghiệm như thế. Có nghĩa là, chúng ta còn lại đây, trong thiên chức linh mục, là do ơn của Chúa chứ không phải do tài năng hay công trạng của chúng ta. Tại sao Ngài đã chọn chúng ta mà không chọn người khác? Đó là một mầu nhiệm mà theo diễn tả của Chúa Giêsu, “ai có tai mới hiểu được”.
           Dù sao, điều chắc chắn là thiên chức linh mục là một hồng ân đặc biệt Chúa chỉ dành riêng cho mỗi người chúng ta. Và đó chính là lý do đời linh mục của chúng ta phải là một đời tri ân. Trong kinh tiền tụng thứ bốn, có câu “lời ca tụng của chúng con không thêm gì cho Chúa”. Thật vậy, chúng ta tạ ơn Chúa không phải vì Chúa cần chúng ta. Chúng ta tạ ơn Người suốt đời vì ơn gọi là lý do khai sinh, lý do tồn tại và lẽ sống đời linh mục chúng ta.
           Đức Maria trong kinh Magnificat, đã cho chúng ta một mẫu gương về lòng tri ân. Mẹ luôn cảm thấy tâm hồn chứa chan hạnh phúc vì lúc nào tâm hồn Mẹ cũng dạt dào niềm tri ân, lúc nào Mẹ cũng “hớn hở vui mừng” vì thấy Chúa luôn là vị ân nhân vĩ dại đã ban cho Mẹ và cho Dân Israel “Đấng cứu độ”. Cũng thế, đời linh mục của chúng ta chỉ thực sự bằng yên, hạnh phúc khi chúng ta ý thức mình là kẻ thụ ân, được Chúa Giêsu tuyển chọn, yêu thương và đồng hành.

2. QUAN HỆ SỐNG ĐỘNG
        Tin Mừng Mc 3, 13-19 kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ với một câu kết rất đáng cho chúng ta suy nghĩ. Ngài kêu gọi họ “để họ ở lại với Người”. Các nhà chú giải cho rằng Tin Mừng Maccô được chia làm hai cuộc hành trình rất rõ rệt: cuộc hành trình thứ nhất từ đoạn 1 đến đoạn 8 là cuộc hành trình băng qua Galilê. Đây quả thật là mùa xuân của ơn gọi vì các môn đệ không làm gì hơn là ở bên cạnh Chúa Giêsu.
        Điều rất đáng ngạc nhiên là cuộc hành trình thứ nhất này kết thúc bằng câu hỏi “các con bảo thầy là ai?” (Mc 8, 26), có nghĩa là Chúa Giêsu thăm dò sự hiểu biết của các môn đệ về chính Người. Nếu gọi Chúa Giêsu là sư phụ, chúng ta có thể nói được rằng chưa biết đủ về sư phụ, sư phụ sẽ không cho xuống núi. Lời tuyên xưng của Phêrô “Thầy là Đức Kitô” (8, 27) có thể được xem như Phêrô đã “thi đậu” trong cuộc phỏng vấn của Chúa Giêsu: Phêrô có thể xuống núi vì đã đạt trình độ hiểu biết về sư phụ Giêsu.
        Cuộc hành trình qua Galilê vừa nhắc đến trên đây kết thúc với việc chữa người hành khất mù tên là Bartimê tại Giêricô. Được chữa lành, anh ta đã vất áo choàng lại, bước theo Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Dường như Maccô coi Bartimê như biểu tượng của những ai đã nhận thức được hoàn toàn ơn gọi của mình. Trước đó, anh chỉ làm được một việc duy nhất là ngồi bên vệ đường (10, 6). Sau khi nhận ra Chúa anh mới có thể bước theo Ngài (10, 52). Từ bài học về Bartimê, ta có thể kết luận rằng bất cứ ai không nhìn thấy, không nhận ra Chúa Giêsu đều không thể đi theo Ngài và bất cứ ai không đi theo Ngài đều không nhận ra Ngài. Lòng tri ân sẽ nồng nàn hơn, cụ thể hơn nếu chúng ta nhận ra sự hiện diện sống động của vị đại ân nhân đã kêu gọi chúng ta.
        Một cha bạn truyền giáo ở Kontum đã chia sẻ với tôi kinh nghiệm này: người dân tộc Tây nguyên có cảm thức về linh thánh rất cao. Họ tham dự cử hành phụng có khi đông hàng vạn mà vẫn im phăng phắc từ đầu đến cuối. Có lẽ vì trước khi gia nhập đạo, họ đã quen kính sợ thần rừng thần núi nên họ ý thức dễ dàng hơn về sự vĩ đại của Thiên Chúa.
        Ngược lại, hiện nay ở phương Tây, người ta lại nói rất nhiều đến một căn bệnh đức tin, đó là căn bệnh mất cảm thức về linh thánh. Vì thế mà người ta rơi vào chủ nghĩa dửng dưng tôn giáo (indifférentisme religieux), cho rằng đã đến lúc nên loại trừ tôn giáo vì không cần thiết nữa.
        Điều đáng báo động là có khi chính linh mục chúng ta cũng bị ảnh hưởng bởi căn bệnh thời đại đó. Tôi vẫn còn nhớ ngày xưa lúc tôi còn bé, một hôm có một vị linh mục, sau khi truyền phép bánh, đã rời cung thánh bước xuống lòng nhà thờ bạt tai một cụ già rồi trở lên truyền phép Máu thánh. Lý do chỉ vì cụ già đó cầu nguyện quá to tiếng khi ngài đưa Mình Thánh Chúa lên cao cho giáo dân thờ lạy sau khi truyền phép.
        Chính bản thân tôi cũng là nạn nhân những hành vi như thế. Chỉ vì có con kiến lẫn vào, cha xứ đã hắt cả bình rượu vào mặt tôi hôm đó giúp lễ.
        Hy vọng rằng chỉ vì nóng tính không kềm chế được, nên các linh mục trong những câu chuyện trên đã có những hành vi như thế. Nhưng cũng rất có thể vì các ngài thiếu ý thức về sự hiện diện linh thiêng của Chúa trên bàn thờ. Nếu cảm nghiệm được sự hiện diện thiêng liêng cao trọng của Chúa chắc chắn các ngài không dám làm như thế.
        Đôi khi cách cử hành cẩu thả, lôi thôi của linh mục chúng ta cũng khiến cho giáo dân ngờ vực, không biết các cha có đức tin không. Mới đây tôi nghe một giáo dân đạo đức than phiền rằng “Thưa Đức Cha, con thấy cha X lúc mới chịu chức xem ra được lắm. Không hiểu sao bây giờ có vẻ như ngài bị lãnh cảm về thiêng liêng”. Tôi giật mình vì cách dùng từ của người giáo dân này, nhưng một cách nghịch lý, lại thấy chữ “lãnh cảm” thật chính xác. Có thể chúng ta đang bị lãnh cảm thiêng liêng như phát biểu của người giáo dân trên đây.
        Vì thế bằng mọi giá, chúng ta phải củng cố lại sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời chúng ta, một sự hiện diện phải đủ nồng độ để bảo đảm sự gắn bó của chúng ta với Ngài mọi nơi mọi lúc. Khi muốn đặt Phêrô làm thủ lãnh nhóm 12, Chúa Giêsu không thẩm vấn Phêrô về tay nghề. Chúa chỉ hỏi ông “anh có yêu mến ta không?”. Như vậy điều kiện của CHÚA GIÊSU là tình yêu. Đó cũng là điều kiện Chúa đặt ra cho linh mục chúng ta. Con tim và cuộc đời linh mục phải đầy ắp Chúa Giêsu.

3. XUẤT PHÁT LẠI TỪ ĐỨC KITÔ
        Những ý tưởng trên đây cho chúng ta thấy rằng để đứng vững trong đời linh mục, chúng ta cần phải tạo lại chỗ đứng cho Chúa Giêsu, phải đặt Ngài vào vị trí hàng đầu trong đời sống linh mục. Hay nói theo ngôn từ của Đức Gioan Phaolô II, cần phải “xuất phát lại từ Đức Kitô”.
        Một số nơi ở miền Bắc, người giáo dân vẫn còn giữ thói quen đi qua nhà thờ bỏ mũ cúi đầu. Chúa đối với họ Chúa vẫn còn rất gần gũi. Họ chào hỏi Ngài thường xuyên mỗi khi có dịp gặp, đi qua hoặc tưởng nhớ Ngài.
Chắc các cha cũng đã đọc câu chuyện cha Don Camillo. Qua cách phản ứng của nhân vật này, ta dễ có cảm tưởng ngài là người ngớ ngẩn. Nhưng đọc kỹ, chúng ta sẽ thấy đó là một mẫu linh mục sống đức tin rất mạnh mẽ, cụ thể và triệt để: luôn luôn dành chỗ ưu tiên cho Chúa Giêsu trong mọi tình huống cuộc đời, chia sẻ vui buồn với Ngài và xin Ngài chỉ đạo tất cả mọi công việc.
        Đó cũng là điều mà trong đời linh mục, chúng ta phải đạt được trong mối quan hệ đối với Chúa Giêsu. Thường chúng ta chỉ giới hạn mối quan hệ đó trong phạm vi cử hành phụng vụ. Nhưng đúng ra nó phải bao trùm cả cuộc sống của chúng ta.
        Có lần, lúc tôi còn là một cha phó, có một giáo dân già gần trăm tuổi đã nói với tôi: “thưa cha, con nhớ các cha ngày xưa hay viếng Thánh Thể lắm nhưng sao bây giờ không thấy các cha làm như thế nữa ?” Tôi hơi bất bình tự nhủ: “đâu phải hễ viếng Chúa là phải trình cho cụ đâu”. Nhưng nghĩ lại, tôi cảm thấy xấu hổ vì nhận xét của cụ giáo dân phản ảnh đúng một phần sự thật về các linh mục thời đại.
        Trong khoá tu nghiệp dành cho giám mục tân nhiệm cuối tháng 9-2007 tại Roma, có vị đã báo động rằng càng ngày càng thấy các linh muc ít xưng tội. Phải chăng đàng sau những tiêu cực đó, tương quan giữa Chúa Giêsu với linh mục đang trên đà suy thoái?
        Kết luận
Chúng ta hãy mượn lời thánh Phaolô để tự nhắc nhở mình: “Đã đến lúc phải canh tân niềm tin của chúng ta vào Đức Kitô, Đấng vẫn là một hôm qua, hôm nay và mãi mãi” (Dt 13, 8).

II.- LINH MỤC VÀ GIÁO DÂN
        Sau cuộc tĩnh tâm, chúng ta lại trở về với đời thường của chúng ta. Đối với đa số các cha, trở về đời thường có nghĩa là trở về với giáo dân. Có thể nói được rằng giáo dân chính là cuộc đời, là bổn phận, là gia đình thiết thân nhất của linh mục. Xét cho cùng thì chúng ta làm linh mục là vì giáo dân, cho giáo dân và với giáo dân. Vì thế, thành hay bại đời linh mục phần lớn tùy thuộc cách ứng xử của linh mục đối với giáo dân.
        Pastores dabo vobis số 22-23 đã diễn tả sứ mệnh của linh mục với giáo dân như sau: “Là mục tử của cộng đoàn, linh mục sống và hiện hữu vì nó; vì nó mà cầu nguyện, học hỏi, làm việc và hy sinh. Và chính vì cộng đoàn mà ngài sẵn sàng thí mạng, yêu mến nó như Đức Kitô, trao cho nó tất cả tình yêu và sự quí mến, hao tốn sức lực và thời giờ vì nó nên hình ảnh của Giáo hội hiền thê Đức Kitô càng ngày càng xinh đẹp hơn, xứng đáng được Chúa Cha quí chuộng và Chúa Thánh Thần yêu thương. Chiều kích hôn ước này của đời sống linh mục -Mục Tử-, buộc linh mục hướng dẫn cộng đoàn bằng sự phục vụ hết mình toàn thể cộng đoàn và từng thành viên”.
        Trích đoạn trên đây là một định nghĩa tuyệt vời về mối quan hệ của linh mục đối với giáo dân. Dựa vào chuẩn mực được đề ra, chúng ta hãy duyệt lại thái độ của chúng ta đối với giáo dân để nhận ra ưu khuyết điểm, với hy vọng trở về sau cuộc tĩnh tâm này, chúng ta tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong việc phục vụ cộng đoàn dân Chúa. Trong giờ suy niệm này, chúng ta hãy xin Chúa tạo cho chúng ta biết yêu thương con chiên với một quả tim của người mục tử nhân lành.
        Chúng ta hãy dựa vào gợi ý của trích đoạn Pastores Dabo vobis trên đây để tiếp cận đề tài dưới ba tiêu đề: 1/ cách đối xử của LM đối với giáo dân; 2/ Cách cử hành của linh mục và 3/ Chuẩn mực quan hệ với giáo dân.

1. SỐNG VÌ CỘNG ĐOÀN
        Hiện hữu vì đoàn chiên có nghĩa là linh mục phải cống hiến đời mình cho đoàn chiên. Chức linh mục của chúng ta được gọi là chức linh mục thừa tác. Điều đó có nghĩa là, theo thứ tự thời gian, cộng đồng tín hữu có trước linh mục. Có Dân Chúa rồi mới đặt thừa tác viên để phục vụ. Có giáo xứ rồi Giám mục mới sai người làm quản xứ về. Trong thực tế, linh mục chúng ta thường hành động ngược lại. Chúng ta xử với giáo dân như chúng ta là những người sinh ra họ.
        Một trong những điều Việt Kiều hay than phiền nhất là linh mục Việt nam quá quan liêu. Không thể vơ đũa cả nắm rằng linh mục nào cũng quan liêu. Cũng không thể lấy lối sống của linh mục Tây Phương làm mẫu mực cho linh mục Việt Nam được. Nhưng ngược lại cũng không thể phủ nhận rằng nhiều linh mục Việt nam có lối đối xử quan liêu, nghĩa là như một vị quan, coi giáo dân như thần dân của nhà độc tài.
        Không những với con chiên, nhiều linh mục còn có thái độ hống hách với cả người bên lương. Một số người có chuyện cần gặp linh mục nhưng chỉ để cho xong việc, rồi không bao giờ trở lại vì quá ngao ngán thái độ độc đoán, khiếm nhã của linh mục. Hệ lụy thật nghiêm trọng: có khi hộ cấm luôn người nhà có đạo không được đến nhà thờ nữa. Giáo dân thì không đến nỗi nào vì họ chịu mãi cũng quen, nhưng người bên lương mất hết thiện cảm và không bao giờ nghĩ đến chuyện theo đạo nữa. Hoá ra, thay vì truyền đạo, linh mục lại làm mất đạo.
        Tài chánh cũng là một trong những lý do khiến linh mục làm cho giáo dân buồn phiền. Tại một số giáo xứ, mỗi lần có đại lễ, giáo dân lại ngao ngán vì thảm cảnh cha bổ nhân danh. Đa số giáo dân Việt nam còn rất nghèo. Nông dân đồng bằng sông Hồng Bắc Việt mỗi ngày bình quân không kiếm nổi một ngàn đồng. Họ khổ từ chỗ ăn chỗ ở cho đến chỗ đi cầu. Nhưng họ rất thương linh mục, sẵn sàng nhường hết những ngọt bùi ưu đãi cho chúng ta. Thế mà nhiều khi lối cư xử của linh mục đối với họ lại quá vô tình. Biết đâu, tuy không cố ý, nhưng chúng ta làm “nghề” linh mục nhiều hơn là mục tử đối với con chiên?

2. “VÌ CỘNG ĐOÀN MÀ CẦU NGUYỆN”
        Ngoài lối cư xử đời thường, linh mục còn phải thể hiện vai trò mục tử khi cử hành phụng vụ, hay nói theo lời trích Pastores dabo vobis trên đây, linh mục phải “vì đoàn chiên mà cầu nguyện”. Trong Tông Thư Dies Domini về Ngày chủ Nhật ở số 1, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết: “Lời thánh vịnh 118 câu 24: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” thật rất xứng hợp với Thánh lễ chủ nhật”. Có nghĩa là phải biến ngày chủ nhật thành một ngày vui cho giáo dân.
        Mỗi tuần giáo dân đi lễ có một lần, có khi từ rất xa. Thế mà nhiều khi chỉ gặp được “bộ mặt hình sự” của linh mục. Giáo dân giống như những chiếc bình tích điện: gặp được linh mục, họ như được dịp “xạc” lại bình để có nhiên liệu tiếp tục con đường.
        Ngày chủ nhật phải là ngày linh mục tặng quà tinh thần cho giáo dân: một nụ cười, một ánh mắt yêu thương, một lời nói khích lệ là những món quà đơn sơ nhưng rất ý nghĩa của linh mục tặng cho giáo dân. Hãy làm một cái gì đó, hãy chuẩn bị một cái gì đó cho giáo dân mỗi lần chúng ta tiếp xúc với họ. Đức cha Hòa rất kiên trì với việc chụp hình với giáo dân. Có thể nói đó là một nhân đức. Có lần tôi hỏi làm sao đức cha có thể kiên trì ngồi chụp hình với hàng trăm người như thế. Ngài trả lời rằng không đích thân đến thăm họ tại gia đình được thì chụp hình là cách để hiện diện bên cạnh họ.
        Nhiều linh mục chẳng những không có một cử chỉ yêu thương nào cho giáo dân mà còn làm cho ngày chủ nhật của họ mất vui. Có cha cau có gắt gỏng từ đầu lễ đến cuối lễ, có khi gạt cả micro và sách lễ xuống đất, biến bàn thờ thành nơi nạt nộ khủng bố giáo dân làm cho ngày chủ nhật của họ trở thành căng thẳng nặng nề. Bài giảng lễ thì lòng thòng và chủ yếu là mắng mỏ, hăm doạ, khiển trách, thậm chí bôi bác giáo dân giữa nhà thờ. Bài giảng không dọn nói mãi không kết được khiến cha giống như máy bay không tìm được phi trường. Người nói thường không cảm thấy dài nhưng đối với người nghe là cả một sự chịu đựng. Nhất là nếu chúng ta không có lợi khẩu, chúng ta làm khổ giáo dân, biến họ thành nạn nhân hơn là nâng tâm hồn họ lên.
        Diễn đàn Lời Chúa là diễn đàn tình thương nhưng rất nhiều cha lợi dụng để trút hết căm hờn lên đầu giáo dân. Không gì mâu thuẫn bằng linh mục lại là thủ phạm gây chia rẽ trong giáo xứ bằng chính lời nói của chủ chăn. Chúng ta tìm cách trừng trị triệt hạ những người đối lập. Không làm được thì chúng ta đem ra giữa nhà thờ đê bêu diếu bôi bác.
        Khi thấy giáo dân đi lễ không chịu vào nhà thờ, chúng ta bực bội vì nghĩ rằng họ vô kỷ luật nhưng biết đâu ở sâu xa vấn đề, họ chán linh mục quá nên không muốn đến gần. Có một cha đuổi thanh niên vô nhà thờ. Có đứa nói nó tin Chúa nhưng không vô nhà thờ vì không thích cha.
        Phải làm thế nào để mỗi lần nghĩ đến linh mục ngày chủ nhật hay lúc dâng thánh lễ, người giáo dân cảm thấy hứng thú vì nhớ lại thái độ tình nghĩa vui vẻ của linh mục, nhất là làm cho họ cảm thấy lời giảng của linh mục thực sự đem lại cho họ một sức sống mới.

3. MỤC TỬ NHƯ LÒNG CHÚA MONG ƯỚC
        “Yêu mến nó như Đức Kitô, trao cho nó tất cả tình yêu và sự quí mến, hao tốn sức lực và thời giờ vì nó nên hình ảnh của Giáo hội hiền thê Đức Kitô”. Tôi nghĩ rằng đây là bí quyết để linh mục huấn luyện con tim mục tử của mình có được sự nhạy cảm của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn đám đông không người chăn dắt mà chạnh lòng thương. Phải đạt cho tới trình độ hễ nhìn thấy dân là thương. Theo suy nghĩ của Chúa Giêsu, đám đông luôn là một đàn chiên bơ vơ. Họ cần đến mục tử chăn dắt họ, họ cần đến linh mục. Nếu không tạo được một con tim mục tử, tự khắc chúng ta sẽ biến mình thành một tên Pharisiêu đã bị Chúa Giêsu lên án là chất lên vai người khác những gánh nặng mà chính mình không vác được.
        “Ta đến để cho thế gian được sống và được sống dồi dào”. Đó là điều Chúa Giêsu đã thể hiện trong cuộc sống tại thế của ngài. Đó cũng là điều bằng mọi giá chúng ta phải đạt được trong đời linh mục của chúng ta. Sự có mặt của vị linh mục trong đời giáo dân có khi đã đục khoét những lỗ hổng quá lớn. Cần phải làm thế nào để sự có mặt của linh mục trong đời giáo dân là một cái gì tích cực: làm cho họ được sống và được sống dồi dào hơn.
        Có thể nói không quá đáng rằng phải thương giáo dân mới là cha xứ. Không thương giáo dân không phải là linh mục, không phải là cha xứ. Người giáo dân sẵn sàng châm chước cho linh mục ngay cả khi các ngài mắc phải những lỗi lầm nghiêm trọng, miễn là họ thấy linh mục yêu thương họ.

Kết luận
        Yêu thương giáo dân phải là một phản xạ tự động của linh mục. Đó là cách hiệu quả nhất để chúng ta thể hiện tinh thần của Chúa Giêsu cứu thế.
“Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con” (Ga 17, 9)