Thư Ngỏ Của
Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền

Nguyễn Đạt Thịnh

        “Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Ðiền” gồm nhiều linh mục, trong số này 4 vị thường ký tên đại diện cho nhóm là linh mục Têphanô Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn, linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế, linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế (đang ở tù), và linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh (đang bị quản thúc).
        Qua đài phát thanh Á Châu Tự Do, ba vị linh mục trong “Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Ðiền” chưa ở tù, theo dõi những cuộc gặp gỡ cộng đồng Việt Nam hải ngoại và những lời phát ngôn của đại sứ Michael Michalak, và từ Việt Nam viết thư ngỏ cho ông này, lá thư đề ngày 25-06-2009. Lời lẽ trong thư rất lịch sự, nhưng ẩn ý bực dọc vẫn thấy rõ, sự bực dọc chưa thấy thể hiện ngoài hải ngoại, nơi xẩy ra những cuộc tiếp xúc của ông Michalak.
        Tôi tự hỏi, “tại sao?”
        Nguyên nhân nào khiến những người Việt hải ngoại, những người trực tiếp đối thoại với ông Michalak không thấy đủ khó chịu để có thái độ đối với ông ta, mà những người Việt quốc nội chỉ nghe (không đầy đủ) những cuộc đối thoại này qua truyền thông lại không nín lặng được?
        Vì quý vị linh mục trực tiếp và hàng ngày đối diện với sự đàn áp nhân quyền, đàn áp tôn giáo nên nhìn thấy rõ thái độ nguỵ biện của Michalak? Hay vì người Việt hải ngoại hiểu rõ tình hình Hoa Kỳ hơn, nên không phản đối Michalak?
        Trước khi tìm được câu trả lời chính xác, xin bạn đọc kiên nhẫn đọc hết lá thư ngỏ khá dài của quý vị linh mục viết từ Việt Nam. Dưới đây là nguyên văn lá thư ngỏ.

Kính thưa Ông Đại sứ
        Chúng tôi ký tên dưới đây là đại diện cho Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền, tức là nhóm Linh mục Việt Nam sống theo tinh thần của Cố Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, vị chủ chăn Công giáo can đảm từng cai quản Giáo phận Huế nhưng đã bị Cộng sản ám hại ngày 08-06-1988.
        Theo bản tin của phóng viên Thanh Quang, đài RFA hôm 18-06-2009, thì Ông Đại sứ đã  gặp nhiều cá nhân và tổ chức Việt Nam hải ngoại ở Washington D.C. ngày 13-06-2009 tại tư gia bác sĩ Nguyễn Quốc Quân (www.rfa.org/ vietnamese/ in_depth/ Michael-michalak -met-with- various-vietname se-american- representatives- in-washington- area-06182009164 514.html).
        Dựa theo những lời phát biểu của Ông hôm đó mà bản tin RFA có ghi lại và chúng tôi hy vọng là không sai lạc, chúng tôi xin trả lời Ông như sau:
        1- Ông nói: “Cần phải minh định rõ rằng đạo luật tự do tôn giáo chỉ đề cập tới vấn đề tự do tôn giáo, nó không nhất thiết liên quan đến nhân quyền”.
        Thế Ông nghĩ sao về điều 18 trong Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị được biểu quyết ngày 16-12-1966. Ðiều 18 này nói rõ: “1- Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng. 2- Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng…” Phải chăng khi nói như trên, Ông Đại sứ hàm ý rằng việc không có tự do tôn giáo chẳng phải là việc mất đi (một phần) nhân quyền hay việc bách hại thành viên tôn giáo chẳng phải là việc vi phạm nhân quyền?
        2- Ông nói: “Hiện giờ Giáo hội Công giáo không dính líu đến chính trị” và “Giáo hội tại VN phải ở ngoài phạm vi chính trị”.
        Thưa Ông, là một nhà ngoại giao lâu năm và học lắm hiểu nhiều, Ông hẳn biết rằng có hai thứ chính trị: chính trị đảng phái và chính trị công dân. Các tôn giáo, đặc biệt là Công giáo, cụ thể là các lãnh đạo tôn giáo, đặc biệt là các lãnh đạo Công giáo, không được dính líu đến chính trị đảng phái, nghĩa là không được thành lập hoặc gia nhập một quân đội để đấu tranh vũ trang cũng như không được thành lập hoặc gia nhập một đảng phái để đấu tranh nghị trường với một nhà nước hay với các đảng phái khác (các giáo dân Công giáo thì có thể làm việc này nhưng không được nhân danh Giáo hội). Tuy nhiên, các tôn giáo, các giáo hội đều có quyền và có nghĩa vụ làm chính trị công dân xét theo tư cách cá nhân các lãnh đạo tôn giáo hoặc theo tư cách tập thể các Giáo hội.
        Quyền và nghĩa vụ này còn mang tính đòi hỏi hơn đối với tôn giáo, bởi lẽ tôn giáo -ngoài chức năng giới thiệu, dẫn đường đến Đấng Chân Thiện Mỹ Tuyệt Đối- còn có chức năng giới thiệu, dẫn đường đến tính chân thiện mỹ trong mọi hành vi của con người, từ cá nhân đến tập thể, nhất là các hành vi thuộc hoạt động chính trị. Nói cách khác, các tôn giáo có quyền và nghĩa vụ làm lương tâm luân lý, làm thầy dạy đạo đức, làm ngôn sứ sự thật, làm chiến sĩ lẽ phải cho toàn xã hội. Cụ thể ra, các tôn giáo có quyền và nghĩa vụ phát ngôn (tuyên bố, kiến nghị, kháng thư) lẫn hành động (tụ tập cầu nguyện, biểu tình phản đối) khi có bất công trong xã hội, có áp bức từ phía chính quyền, có sai lầm từ các chính sách, có triệt tiêu hay giới tự do từ chế độ cai trị, có nguy cơ do nội xâm và ngoại xâm…
        “Giáo hội tại Việt Nam phải ở ngoài phạm vi chính trị”, câu nói này của Ông Đại sứ thật là đúng ý Cộng sản. Bởi lẽ Cộng sản trước kia gọi tôn giáo là thuốc phiện mê dân, nhưng nay muốn tôn giáo thật là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, muốn các tôn giáo, cụ thể là các lãnh đạo tôn giáo, im lặng trước những sai lầm và tội ác của chính đảng và chính phủ CS, trước chủ trương phá thai để điều hòa dân số, chủ trương bán rẻ sức lao động của công nhân, chủ trương xuất khẩu lao nô và tình nô ra nước ngoài, chủ trương cướp đất nông dân, cướp nhà thị dân, cướp tài sản giáo dân dưới chiêu bài quy hoạch phát triển, chủ trương đàn áp những ai lên tiếng đòi hỏi các nhân quyền dưới chiêu bài “ổn định chính trị”, chủ trương giáo dục kiểu ngu dân, nhồi sọ, diệt ý chí, chủ trương nhượng biên giới, hải đảo, đất liền (Tây Nguyên chẳng hạn) cho ngoại bang để bảo vệ ngai vàng quyền lực.
        3- Ông nói: “Liên hệ chính trị thường phải đương đầu với hàng loạt thứ luật lệ không liên quan luật về tự do tôn giáo, khiến đương sự gặp nhiều rắc rối. Như trường hợp Lm Nguyễn Văn Lý, vì vượt qua ranh giới này nên tiếp tục bị cầm tù”.
        Thưa Ông, đây là luận điệu mà nhiều chính khách Hoa Kỳ thuộc hành pháp vẫn dùng để kết án không những Linh mục Nguyễn Văn Lý mà cả Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng các lãnh đạo tinh thần đã và đang đứng lên đương đầu với chế độ CSVN. Tự do tôn giáo và tự do dân sự là hai mặt của cùng một thực thể: nhân quyền. Các chức sắc tôn giáo vừa là thành viên của Giáo hội, vừa là công dân của Đất nước, vừa là anh em của mọi người. Các tôn giáo, theo bản chất, vừa phải bảo vệ những giá trị siêu linh vừa phải bảo vệ những giá trị nhân bản, vì hiện diện giữa cộng đồng con người và cộng đồng dân tộc. Linh mục Nguyễn Văn Lý (và nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền chúng tôi) khi lên tiếng chống độc tài đảng trị, chống đảng cử dân bầu… Hòa thượng Thích Quảng Độ (và Lưỡng viện Tăng thống, Hóa đạo của ngài) khi lên tiếng chống các hiệp định lãnh thổ và lãnh hải bất công, chống việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên… tất cả đều chỉ hành động theo lương tâm và bổn phận của một tín đồ, một nhà tu hành, một chức sắc tôn giáo, đều chỉ bày tỏ thái độ chính trị (mà chúng tôi được quyền có) và thực thi chính trị công dân (mà chúng tôi được quyền làm). Hòa thượng Quảng Độ và Linh mục Lý chỉ gọi là “vượt qua ranh giới” khi các ngài có mưu tính nhảy vào chính trường (như nhiều vị tu hành đang là đại biểu Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân các cấp) hay nhắm một chức vụ nào đó trong chính quyền tương lai (một điều mà các ngài và chúng tôi chẳng bao giờ màng đến). Nhà cầm quyền CS đàn áp Linh mục Lý (cầm tù) và Hòa thượng Quảng Độ (quản chế) chính là đàn áp tôn giáo thực sự. Cho nên câu Ông nói: “Có một sự khác biệt rõ rệt giữa những người (theo tôn giáo) bị bắt vì bày tỏ quan điểm chính trị và những người đi lễ nhà thờ vào Chủ Nhật (mà bị đàn áp)”, câu nói ấy, theo chúng tôi, bao hàm một sự phân biệt giả tạo.
        4- Ông nhận xét: “Nói chung người dân VN hiện có cơ hội bày tỏ Đức tin của mình nhiều hơn trước đây” và nhận định: “Ngay trong lúc nầy, tôi không tin là có đủ bằng chứng để đưa VN trở lại danh sách CPC, tức những nước cần quan tâm đặc biệt về đàn áp tôn giáo”.
        Những nhận xét và nhận định này của Ông đã gặp phải phản ứng thế nào của cộng đồng người Việt tại quận Cam, Nam California ngày 05 và 06-06-2009 (x. RFA 08-06-2009) và của mục sư Thân Văn Trường từ Việt Nam ngày 12-06-2009 thì Ông đã rõ. Nay chúng tôi chỉ xin thêm vài ý kiến.
        Hẳn Ông Đại sứ muốn nói người dân Việt Nam nay có cơ hội bày tỏ Đức tin mình hơn trước qua việc các tín đồ đến những nơi thờ tự đông đảo, các chức sắc ra ngoại quốc nườm nượp, các lễ hội tôn giáo được tổ chức linh đình, các Giáo hội được xây chùa chiền, thánh thất, nhà thờ nguy nga !?! Là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, một trí thức uyên thâm, hẳn Ông biết rằng đó chỉ là những thứ tự do tôn giáo rất ngoại diện, rất phụ tùy. Ngoài ra, không phải mọi tín đồ, mọi chức sắc, mọi tôn giáo đều được hưởng những thứ tự do ngoại diện đó (bị tước những thứ này là các Giáo hội truyền thống, thuần túy, phi quốc doanh, các chức sắc và tín đồ đấu tranh, đối kháng, “phản động”).
        Việc bày tỏ Đức tin cách đích thực, tự do tôn giáo đúng nghĩa nằm ở chỗ các tôn giáo và các tổ chức tôn giáo (1) phải được nhà nước thừa nhận quy chế (sau khi đăng ký, theo nghĩa trình báo), công nhận như những pháp nhân thực thụ; (2) phải được độc lập trong việc huấn luyện, tấn phong, bổ nhiệm, thuyên chuyển các chức sắc của mình, phải được tham gia vào các cơ quan xã hội, bộ máy nhà nước qua những tín đồ, giáo dân của mình; (3) phải được tự do trong các hoạt động, từ hoạt động thờ phượng đến hoạt động truyền giáo, hoạt động xã hội, hoạt động giáo dục; phải được sở hữu các phương tiện truyền thông, các cơ sở giáo dục mọi cấp; (4) phải được trả lại mọi cơ sở, đất đai đã bị nhà cầm quyền tịch thu từ 1954 hay từ 1975, phải được quyền sở hữu đất đai và mọi thứ tài sản khác (do thủ đắc, do dâng tặng); (5) phải được tự do liên lạc với các tổ chức, cơ quan đồng đạo ở nước ngoài mà không bị nhà cầm quyền can thiệp, lũng đoạn. Tất cả 5 quyền tự do tôn giáo cơ bản này chưa hề có tại Việt Nam.
        Thành ra, Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế, nhiều chính khách thuộc Lập pháp của Hoa Kỳ (và cả những lãnh đạo tinh thần đấu tranh tại Việt Nam) đã rất đúng đắn khi yêu cầu chính phủ Mỹ đặt Việt Nam vào lại CPC với những chế tài đích đáng.
        5- Ngoài ra, trong cuộc gặp gỡ cộng đồng người Việt tại quận Cam, Nam California ngày 05 và 06-06-2009, Ông Đại sứ đã hân hoan cho biết dù chỉ mới phục vụ được một nửa nhiệm kỳ tại Việt Nam, nhưng ông đã đạt được chỉ tiêu về việc nâng cao con số du học sinh từ Việt Nam vào nước Mỹ lên đến hơn 12 ngàn sinh viên. Rồi trả lời câu hỏi là việc gia tăng số du học sinh sẽ cải thiện tình hình nhân quyền tại Việt Nam như thế nào, Ông phát biểu: “Giáo dục sẽ giúp phần cải thiện nhân quyền đơn giản là vì khi người ta càng hiểu biết nhiều về thế giới xung quanh, thì họ lại càng có những chọn lựa khôn ngoan hơn, và tôi tin rằng họ sẽ tất nhiên có những quyết định có lợi ích cho việc cải thiện nhân quyền.”
        Ở đây, chúng tôi không cần nhắc lại phản ứng của Dân biểu Dana Rohrabacher vốn đã bác bỏ lý luận lạ lùng của Ông. Chúng tôi chỉ xin nhận xét rằng vấn đề hỗ trợ giáo dục tại Việt Nam có hai khía cạnh:
        a - Nếu là việc tăng số du học sinh sang Hoa Kỳ (như ông đang làm), thì chúng tôi xin thưa rằng việc này không tất nhiên giúp cải thiện nhân quyền dân chủ. Vì như Ông Đại sứ biết, số sinh viên du học từ Việt Nam thường phân thành ba loại: loại con cái đảng viên cán bộ CS, loại con cái những nhà giàu mới nổi và loại học sinh nghèo nhưng xuất sắc. Loại con cái đảng viên cán bộ học hành về để thay thế cha ông tiếp tục thống trị dân Việt. Loại con cái nhà giàu hoặc ở lại Hoa Kỳ sau khi tốt nghiệp, hoặc trở về thì e rằng cũng chỉ lo kiếm tiền, tiến thân hơn là cải thiện nhân quyền, phục vụ xã hội. Loại con cái nhà nghèo thành tài trở về cũng sẽ chỉ giữ được những chức vụ nhỏ trong guồng máy xã hội (trừ khi gia nhập đảng CS), thành ra chí hướng cải thiện nhân quyền chẳng có cơ thành tựu. Xin Ông Đại sứ cứ nhìn xem ông Nguyễn Thiện Nhân, một người từng tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa Kỳ và đang giữ chức bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo CSVN. Thế mà ông ta đã đạt thành quả gì ngoài việc “thúc đẩy nhanh chóng sự xuống dốc đến mức đáng xấu hổ của nền giáo dục Việt Nam, trong năm 2007” với danh hiệu “Nhân vật tệ hại nhất năm 2007” do các trang blog quốc nội bình bầu và gần đây nhất lại bị một số trí thức trong nước gọi là “kẻ dở khôn dở dại”!!!
        b- Nếu là việc giúp thay đổi tận căn nền giáo dục ngày càng sa sút của Việt Nam thì đó là điều Ông Đại sứ xem ra chưa quan tâm, nhưng đây mới là chuyện cốt yếu. Với kinh nghiệm và kiến thức, Ông hẳn biết rằng nền giáo dục tại các quốc gia CS, cụ thể là Việt Nam, từ trước tới nay chú trọng “hồng hơn chuyên”, dạy dỗ tính gian dối và dung túng thói bạo hành, đào tạo ra những tôi trung phục vụ cho đảng hơn là những công dân tự do cho đất nước, nhồi sọ cho học sinh ngay từ thơ bé lòng kính yêu Hồ Chí Minh, tay gian hùng, kẻ đã đem đến bao tai họa cho đất nước Việt Nam (Nền giáo dục Hoa Kỳ có dạy học sinh kính yêu đặc biệt một vị tổng thống nào chăng, ngay cả tổng thống George Washington, cha già dân tộc của Hoa Kỳ?). Nền giáo dục đó cho tới nay vẫn lâm cơn khủng hoảng triền miên với một chương trình nặng nề, từ chương, thay đổi xoành xoạch, một bộ sách giáo khoa độc quyền nhưng biên soạn cẩu thả, đầy xuyên tạc và bán giá đắt, một hàng ngũ giáo viên mà vô số thiếu khả năng và thiếu tư cách, một hệ thống trường ốc mà đa phần xập xệ, ít tiện nghi, ít phương tiện, một chính sách quản lý điều hành loại trừ sự tham gia của các tôn giáo đầy khả năng và thiện chí. Nền giáo dục đó đang khiến cho hàng triệu học sinh bỏ học vì thâu học phí và tăng học phí thường xuyên, đang trói buộc sinh viên trong vòng kiềm tỏa của chế độ qua việc tăng học phí ngất trời để rồi cho mượn tiền trang trải. Nền giáo dục đó đã từng hăm dọa các học sinh sinh viên yêu nước chống Trung Quốc xâm lược, đang loại trừ những thầy giáo như Vũ Hùng vì đấu tranh cho dân chủ, như Đỗ Việt Khoa vì phanh phui các tiêu cực học đường, những cô giáo như Nguyễn Thị Bích Hạnh vì dám dạy cho học sinh tinh thần độc lập. 
        Vốn đã hưởng một nền giáo dục rất tiến bộ trong một quốc gia rất dân chủ, Ông Đại sứ hẳn hiểu rằng nếu không có một nền chính trị dân chủ thì nền giáo dục chẳng đem lại kết quả gì. Có kiến thức rộng, có bằng cấp cao, người ta cũng bị biến thành nô lệ hay tự biến thành nô lệ, bị biến thành kẻ hèn hay tự biến thành kẻ hèn trong chế độ độc tài ấy mà thôi. Thành ra, điều quan trọng nhất mà Ông, đại diện cho một chính phủ dân chủ hàng đầu, cần làm là giúp dân chủ hóa nền giáo dục tại Việt Nam, hay nói đúng hơn, rộng hơn, sâu hơn, là giúp dân chủ hóa nền chính trị tại Việt Nam trước đã.
        Xin Thượng Đế ban phúc lành cho Ông Đại sứ và cho Hoa Kỳ.
        Đại diện Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền
        - Linh mục Têphanô Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn
        - Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế
        - Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế (đang ở tù)
        - Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh (đang bị quản thúc)
        Người trong nước nổi giận với ông Michalak, nhưng người hải ngoại chỉ tỏ thái độ bất bình bằng những câu phản đối tại chỗ, những câu căn vặn nói xong nằm lại bên trong hội trường, không đi đâu xa hơn nữa, không mang lại một tác dụng nào cả.
        Chúng ta nhất định không có thái độ, mặc dù chính miệng ông Michalak thách thức chúng ta có thái độ: ông bảo chúng ta có tức thì cứ viết thư yêu cầu tổng thống Hoa Kỳ bãi nhiệm ông ta.
Michalak đến tiếp xúc với chúng ta vì bổn phận của ông phải tường trình với một tập thể công dân Mỹ quan tâm đến mọi việc ông làm tại Việt Nam hơn những công dân Mỹ khác. Ông đến Việt Nam để thể hiện chính sách của chính phủ Hoa Kỳ; nếu Michalak không thể hiện đúng, chúng ta có quyền xin bãi nhiệm ông; nếu chính sách Hoa Kỳ mà ông là người thể hiện tại Việt Nam không đúng với nguyện vọng của chúng ta, chúng ta có quyền thay đổi chính sách đó.
        Ðó là điểm khác biệt trong phản ứng của chúng ta và của quý vị linh mục trong “nhóm LMNKД. Khác biệt tôi muốn trình bầy là khác biệt về pháp lý: chúng ta có tư cách công dân Hoa Kỳ, và với tư cách này chúng ta phải làm những điều mà người trong nước không làm được. Một trong những lý do cần giải nhiệm Michalak là ông không làm đại sứ Hoa Kỳ bên cạnh chánh phủ Việt Cộng, không bênh vực những giá trị Hoa Kỳ trong những diễn biến phản dân chủ, phản nhân quyền tại Việt Nam, mà lại đang đóng vai đại sứ Việt Cộng bênh vực những giá trị của Việt Cộng bên những người Mỹ phản đối việc Việt Cộng đàn áp cao trào tự do và nhân quyền tại Việt Nam.            
        Từ Việt Nam trở về ông đến họp mặt với cộng đồng người Việt tại quận Cam vào tối thứ Sáu và thứ Bẩy mùng 5 và mùng 6 tháng Sáu, việc làm mà tôi vừa viết là bổn phận của ông tường trình cho những công dân Mỹ quan tâm đến sứ mạng của ông.
        Michalak thừa nhận ông hiểu lầm về những điều mà công dân Mỹ và chính phủ Mỹ giao phó cho ông thực hiện.
        Ðiều sai lầm thứ nhất Michalak thú nhận trong cuộc thảo luận “nhân quyền tại Việt Nam” vào tối thứ Sáu là việc ông khoe ông đã thành công trong việc cải thiện nhân quyền tại Việt Nam bằng cách gửi 12,000 sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ du học.
        Một hội thảo viên hỏi ông về những liên quan giữa hai việc gửi sinh viên Việt Nam đi du học và việc cải thiện nhân quyền. Michalak trả lời, “Giáo dục sẽ giúp phần cải thiện nhân quyền, đơn giản là vì khi người ta càng hiểu biết nhiều về thế giới xung quanh, thì họ lại càng có những chọn lựa khôn ngoan hơn, và tôi tin rằng họ sẽ tất nhiên có những quyết định có lợi ích cho việc cải thiện nhân quyền.”
        Nói một cách khác, nếu Michalak có tiếp tay giải quyết tệ nạn đàn áp nhân quyền, thì việc làm của ông chỉ gián tiếp và kết quả cũng không thể hiện trong thế hệ này.
        Tham dự buổi thảo luận còn có hai dân biểu liên bang là Lorretta Sanchez và Dana Rohrabacher. Ông Dana Rohrabacher phản bác quan điểm này: “Tôi không cho là việc đè nén nhân quyền tại Việt Nam xẩy ra là vì người dân thiếu hiểu biết. Nguyên nhân của sự chà đạp nhân quyền là vì có một nhóm người nhất quyết giữ lấy quyền cai trị. Kể cả người cùng đinh nhất trong xã hội cũng hiểu rất rõ rằng họ bị đàn áp, rằng họ không có quyền tự do ngôn luận. Các ông giáo sư đại học hiểu rằng nếu họ không được tự do chỉ trích nhà cầm quyền thì sẽ bị mất việc. Việc có hay không có nhân quyền không dựa vào dân trí, mà là do chính sách của nhà cầm quyền”.
Nhiều hội thảo viên người Mỹ (gốc Việt) cũng bác bỏ quan điểm giản dị đến mức ngớ ngẩn của Michalak; một người nêu lên câu hỏi, “ông có mua thời giờ cho Việt Cộng không?”
        Ðiều sai lầm thứ nhì của Michalak là tự do tôn giáo.
        Nhiều hội thảo viên hỏi Michalak về những điều mà họ cho là vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhiều người khác đòi đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC, tức danh sách những quốc gia cần phải được quan tâm đặc biệt vì vi phạm tự do tôn giáo. Michalak trả lời: “Quan điểm của tôi về tự do tôn giáo hơi khác với những quan điểm đã được quý vị phát biểu ở đây ngày hôm nay. Quý vị đã biết là Bộ Ngoại Giao cho rằng hiện giờ không có đủ bằng chứng để chúng tôi đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC.” Lời phát biểu  này đã khiến nhiều người trong cử tọa ồ lên vì không giấu được sự thất vọng và không đồng ý.
        Trong buổi thảo luận chiều hôm sau, dân biểu liên bang Ed Royce đã đơn cử trường hợp của Mục Sư Nguyễn Công Chính, một bằng chứng cụ thể về việc chà đạp tự do tôn giáo tại Việt Nam đã xẩy ra từ nhiều năm nay. Ông nói: “Nhiều người trong chúng ta rất quen thuộc với tình trạng của Mục Sư Nguyễn Công Chính, người đã bị công an địa phương đánh đập rất tàn nhẫn chỉ vì những sinh hoạt tôn giáo và nhân quyền của ông. Tấm hình của ông mặt bê bết máu đã nói với chúng ta rất nhiều. Tôi đã đưa tấm hình này cho về các đồng nghiệp của tôi xem. Đó là tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam hôm nay.”
        Đại Sứ Michael Michalak trả lời: “Muốn đặt một quốc gia vào danh sách CPC đòi hỏi nhiều điều kiện. Tôi không thấy chúng ta có ích lợi gì trong việc đưa Việt Nam trở lại danh sách này.”
        Sau buổi thảo luận, ký giả Kiều Mỹ Duyên, phát biểu: “Chúng tôi là công dân của Hoa Kỳ, chúng tôi đều có quyền bỏ phiếu, chúng tôi cũng có quyền đề nghị với chính phủ Hoa Kỳ đưa ông Đại Sứ này trở về Hoa Kỳ”. Cô Kiều Mỹ Duyên nói để trả lời thách thức của Michalak khi ông bảo cử tọa, “Quý vị có thể viết thơ cho Tổng Thống Obama để “take me out” --đem tôi ra khỏi Việt Nam”.
        Tại sao chúng ta lại không làm công việc vô cùng cần thiết đó? Tôi đề nghị chúng ta hãy lập tức viết thư yêu cầu ngoại trưởng và tổng thống Hoa Kỳ thay thế đại sứ Michalak. Chúng ta đưa ông ta tới Việt Nam để ông làm biểu tượng về những giá trị Hoa Kỳ bên cạnh chủ trương của chính phủ Việt Cộng đi ngược lại với những giá trị này.
        Không những Michalak không biểu dương được những giá trị Hoa Kỳ mà ông ta còn làm ngược lại: biểu dương giá trị của Việt Cộng trong một buổi hội thảo với các công dân và dân biểu Hoa Kỳ.
Tôi tin tưởng hai điều: một là lá thư đòi triệu hồi Michalak sẽ được hàng triệu người Việt hải ngoại hân hoan ký để kiên định lập trường của họ đối với Việt Cộng; và hai là lá thư sẽ tạo được một hiểu biết chính xác hơn về Việt Nam cho tổng thống, ngoại trưởng, và công luận Hoa Kỳ, ấy là chưa kể đến Việt Cộng, chúng sẽ ý thức rõ hơn là việc chúng giam cầm hàng trăm chiến sĩ dân chủ, nhân quyền Việt Nam, kềm kẹp hàng chục triệu công dân Việt Nam không giúp chúng ngồi mãi trên lưng dân tộc Việt Nam được.
        Xin quý vị trí thức đã hội thảo với Michalak hãy “bắt” lời thách thức của Michalak, tôi cam kết sẽ ký kiến nghị này ngay khi quý vị phổ biến.
        Xin quý vị tự hỏi “ông ta sẽ nghĩ gì về chúng ta nếu chúng ta không dám làm gì cả, và đồng bào trong nước sẽ thất vọng đến mức nào về thái độ ‘chỉ nói rất hăng nhưng không bao giờ làm’ của người Việt hải ngoại?”