Về Nhà Thơ Hà Thượng Nhân
* Một người trí thức trọn đời rong tuổi đi tìm Đạo Thật. * Một môn đồ Khổng giáo nhưng tâm hồn luôn hướng về Công giáo. * Những “rào cản” khiến ông bị hàm oan là người “chống” Công giáo! * Nhưng cuối cùng, ngày Thứ Bảy 01-8-2009 lòng tin đã thắng, để cho “Châu về Hiệp Phố”.
Trần Phong Vũ

        Cơ duyên hạnh ngộ. Cá nhân tôi có cái may mắn được gặp và biết Hà Thượng Nhân Phạm Xuân Ninh khi ông đảm nhận chức vụ Giám Đốc Đài Phát Thanh Quốc Gia thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Trước và nhiều năm sau đó, tôi và Uyên Thao thay nhau lo một mảng chương trình của đài gồm bình luận thời sự, chính trị, văn hóa thuộc các bộ phận Bình Luận, Kiến Thức Phổ Thông và Giáo Dục Đại Chúng.
        Dù ở cương vị một thuộc cấp, nhưng ngay từ những ngày đầu, ông Hà đã dành cho tôi những cảm tình khá đặc biệt. Có lẽ vì cùng mang một mẫu số chung là nhà giáo –lại là nhà giáo dạy môn quốc văn-, nên Hà Quân thường tỏ ra rất tâm đắc những bài bình luận thời sự của tôi. Theo ông, nó vượt lên trên những lý luận khô cứng, một chiều thường thấy nơi những bài viết theo đường lối, chỉ thị của Bộ Thông Tin. Nhờ thế, vẫn theo nhận định rộng lượng của ông, nó có khả năng thuyết phục được người đọc, người nghe rất cao. Từ cái hảo cảm khởi đầu ấy, khi biết tôi là người Công giáo, trong những lần gặp gỡ riêng tư, ông không ngần ngại kể cho tôi hay những kỷ niệm đẹp trong thời gian ông dạy học bên cạnh các linh mục, tu sĩ tại các trường trung học Công giáo khi còn ở ngoài Bắc cũng như lúc đã vượt thoát vào Nam. Ông nhắc lại mối giây liên hệ thân ái giữa ông với đức cha Hoàng Văn Đoàn, Giám mục giáo phận Bắc Ninh và đức TGM Ngô Đình Thục ở Huế. Có lúc ông tâm sự là có nhiều người muốn ông theo về đạo Công giáo, trong số có cả các linh mục và giám mục, nhưng ông đều dứt khoát khước từ, mặc dầu lúc ấy, ngoài Không giáo, ông thấy giáo lý Công giáo và những gì ông đọc được trong Kinh Thánh Tân Ước, có nhiều điểm đáp ứng được lý tưởng đi tìm chân đạo của ông. Lý do duy nhất khiến ông ngần ngại vào đạo lúc ấy chỉ vì ông không muốn bị bạn bè và người đời đàm tiếu là ông “đi đạo kiếm gạo mà ăn”, theo đạo để mưu tìm công danh, sự nghiệp!
        Sau khi ông rời chức vụ giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh Quốc Gia, bẵng đi một thời gian dài, tôi không có cơ hội gặp ông, dù vẫn được đọc những dòng thơ khoan hòa, thắm đượm tình người của ông trên báo chí Sàigòn thuở ấy. Cho đến khi ông và gia đình qua Mỹ, tôi có cơ may gặp lại nhà thơ nhân hậu làng Hà Thượng. Lúc này, ông sắp sửa bước vào tuổi bát tuần, sức khoẻ lên xuống thất thường. Có lúc ông đã phải ngồi xe lăn vì chứng đau khớp, hệ quả của những năm tù cộng sản. Nhưng cũng có thời gian ông khoẻ lại một cách không ngờ mà trong những lúc vui, tinh thần sảng khoái ông coi hiện tượng này như một phép lạ. Đi đứng vững vàng, nói năng hoạt bát. Tái ngộ ông, tôi thấy lại được ánh mắt tươi vui và nét cười bao dung, khả ái ngày nào. Mỗi lần ấn hành một cuốn sách mới tôi gửi biếu ông là mỗi lần tôi lại nhận được những cánh thư với những lời chân thành khích lệ qua nét chữ mềm, đẹp, ngay ngắn trên trang giấy không có hàng kẻ. Chưa lần nào ông từ chối tôi mời ông đọc hoặc phát biểu cảm tưởng trong những dịp ra mắt sách của tôi hoặc của bạn bè tôi.
        Dấu ấn còn ghi đậm trong tôi là lần tôi mời ông chia sẻ những suy tư về Khổng Giáo cùng với cụ Mai Ngọc Liệu chia sẻ về Lão Giáo và cá nhân tôi về Thiên Chúa Giáo dịp giới thiệu tác phẩm Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo của linh mục Đường Thi Cao Phương Kỷ ở San Jose. Kế đến là dịp ông nhận lời mời của tôi để lên tiếng trong lần giới thiệu tác phẩm Di Sản Mác Xít Tại Việt Nam của giáo sư triết học Đỗ Mạnh Tri (Pháp) cũng diễn ra ở miền Thung Lũng Hoa Vàng.
        Trong lần đọc và giới thiệu Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo của cha Cao Phương Kỷ (như một an bài của định mệnh, chính cha Kỷ đã hướng dẫn giáo lý và tự tay cử hành Bí tích Thánh Tẩy cho nhà thơ Hà Thượng Nhân hôm Thứ Bảy, 01-8-2009 vừa qua), ông đã so sánh lòng Nhân trong tư tưởng của Khổng Phu Tử với tinh thần Bác ái của Công giáo. Nghe những lời chia sẻ của Hà Chưởng Môn hôm ấy, tôi như bắt gặp lại cái “hồn Kitô giáo” toát ra nơi ông từ những ngày nào đã xa trong quá khứ.
        Cho đến hôm nay tôi vẫn không quên được cử chỉ chân thành của ông khi dúi vào tay tôi 200 MK để mua 10 cuốn Di Sản Mác Xít của giáo sư Đỗ Mạnh Tri sau khi phát biểu những lời trân trọng trong dịp ra mắt tác phẩm này, dù cả tác giả và cá nhân tôi đều muốn biếu tặng ông. Ông nói: “các anh phải nhận tiền cho tôi vui, vì tôi muốn tập cho chính tôi cũng như mọi người đọc biết cái bổn phận phải trân trọng và nâng đỡ những công trình trí tuệ của những tác giả người Việt ở hải ngoại. Sở dĩ tôi muốn mua 10 cuốn sách này vì đã hứa với một số anh chị em ở đây là sẽ ngồi lại với nhau để suy cứu sâu xa về những gì giáo sư Tri đã viết”.
        Nếu trường hợp thứ nhất cho tôi thấy lại cái “hồn Kitô giáo” nơi vị thượng cấp cũ và cũng là người đồng đạo tương lai của tôi, thì trường hợp thứ hai đã giúp tôi nhận ra nhân cách cao cả và thái độ trân quý của một người trí thức bậc thày đối với văn chương chữ nghĩa Việt Nam, nhất là với những tác phẩm mà nội dung gắn bó với hoàn cảnh đau thương của đất nước hiện nay.
        Ngày Hà Quân tìm gặp Chân Đạo. Tháng 7 năm 2009, nhà thơ Hà Thượng Nhân bị bạo bệnh phải vào nhà thương. Sau khi sức khoẻ tạm thời hồi phục, vì không muốn làm phiền vợ con, ông ngỏ ý định vào viện dưỡng lão, nhưng chỉ mấy ngày sau, vì thương ông, thân nhân lại đưa ông về nhà. Chính thời gian này, ông đã ngỏ lời với anh Phạm Bá Cát, (người có mối liên hệ thân tình với ông từ lâu và cũng là người điều khiển hệ thống Truyền Thanh Quốc Gia nhiều năm sau này), là muốn theo đạo Công giáo. Một cơ duyên hi hữu là cũng thời gian này linh mục Đường Thi Cao Phương Kỷ, linh hướng nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân, đang nghỉ hưu tại nhà hưu dưỡng Dòng Đồng Công Missouri về ở San Jose chuẩn bị giúp khóa Cursillo sau những ngày ghé thăm anh em trong tòa soạn DĐ ở nam California. Theo lời yêu cầu của ông Hà, các anh Ngô Đức Diễm, Phạm Văn Hướng và Trần Hiếu thuộc Phong Trào Học Hội Kitô Giáo (Cursillo) địa phương đã thay nhau ngày ngày đưa đón cha Kỷ tới đàm đạo với ông về giáo lý của Chúa Kitô. Như mảnh ruộng màu mỡ lâu ngày gặp cơn mưa rào, hạt giống đức tin tiềm ẩn trong ông nảy nở rất nhanh báo hiệu một mùa gặt hái thành công.
        Thứ Bảy, ngày 01-8-2009, nghi thức ban Bí Tích Thánh Tẩy cho Hà Quân đã được linh mục Đường Thi Cao Phương Kỷ cử hành trọng thể tại giáo đường St. Victor trước sự hiện diện của hàng trăm nhân sĩ và thân nhân của ông, trong số có giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, cựu tướng Nguyễn Khắc Bình, cụ Mai Ngọc Liệu, ký giả nhà văn Thanh Thương Hoàng, nhóm thơ văn Cội Nguồn, các đoàn viên PT Cursilo, đại diện các đoàn thể trong cộng đồng Công giáo San Jose. Từ nam California có bác sĩ Trần Văn Cảo và cá nhân tôi đại diện nguyệt san DĐGD, những thân hữu của Hà Chưởng Môn như các cựu Trung Tá Vũ Văn An, Nguyễn Văn Minh, cựu Nghị viên Vũng Tàu Đinh Hồng Phong v.v…
        Sau đây là nguyên văn những lời phát biểu ứng khẩu của Hà Quân trong buổi tiếp tân sau khi nhận Bí tích Thánh Tẩy được ghi lại trong băng hình thâu tại chỗ:
        “Tôi hết lòng cám ơn linh mục Cao Phương Kỷ, quý anh chị đã giúp tôi tìm lại với ánh sáng của Thiên Chúa. Trước kia tôi là người luôn luôn muốn tìm một đạo thích hợp với con người để mà đi theo; một cái đạo bác ái, đạo từ bi, đạo dậy ngườita những điều nhân ái, dạy người ta những điều tử tế. Cho nên lúc nào tôi cũng chỉ mong sống được làm người tử tế mà thôi.
        “Từ trước đến giờ có nhiều người ngộ nhận, kể cả vợ tôi, tôi là người chống Công Giáo là bởi vì khi tôi đi dạy học tại các trường Đạo mỗi khi có giờ giáo lý thì tôi thường tránh né. Tôi chờ cho hết giờ giáo lý mới vào, ai la thì la. Tôi cho như thế là không đúng bởi vì mời người ta dạy học mà lại bắt người ta học đao của mình, như thế là sai quấy.
        “Hồi tôi dạy học tại Bắc Ninh thì vị Giám Mục rất qúy trọng tôi và thường làm thơ tặng tôi. Nhưng mà Linh mục bí thư lại ghét tôi lắm. Tôi còn nhớ một cha tên là Tự có lần hỏi tôi là tôi ăn ở làm sao mà cha bí thư nói với Đức Cha là ‘Công Giáo thiếu gì người mà lại tìm người ngọai đạo vào dậy, láo lếu qúa, chả coi ai ra gì cả . Tôi có hỏi lại thế thì Đức Cha trả lời ra sao, thì cha Tự thuật lại lời đức cha: ‘người ta là người tử tế, người ta ăn ở đàng hòang, người ta không có nịnh mình. Cha nên biết bây giờ đạo Công Giáo thì nhiều người đề cao lắm nhưng mà đề cao để mà lợi dụng cái này cái khác, còn ông này không lợi dụng ai cả’.
        “Có lần Đức cha hỏi tôi: “Thày giáo có nhận biết Chúa không?” Tôi nói tôi biết nhưng tôi chưa theo đạo Chúa được. Ngài hỏi lại: ‘vì sao vậy?’, tôi trả lời: ‘vì là tôi theo đạo mà vị nguyên thủ quốc gia là Công Giáo thì người ta nói tôi theo đạo kiếm gạo mà ăn’. Người nói: ‘đâu có phải vậy. Việc đạo quan hệ đến cả đời mình, ai nói sao thì nói, chứ sao lại nghĩ thế?’ Tôi trả lời ngài: ‘Nhưng mà con người yếu đuối quá không thể vượt trên những cái đó được, xin thưa để Đức cha hiểu’. Thế rồi có những điều tôi hỏi Đức cha, hỏi về đạo Công Giáo thì Đức cha dẫn giải cho tôi; nhưng Đức cha cũng nói: ‘thầy hãy cố gắng tìm hiểu dần dân chứ đạo của trời đất thì rộng rãi, bao la vô cùng’.
        “Thật ra, những điều tôi hỏi cũng không ngòai thắc mắc làm sao cho con người sống được lâu dài, trường cửu. Thí dụ như tôi có viết văn, làm thơ thì cũng chỉ trong ý hướng đó, nghĩa là muốn biến cuộc sống hữu hạn thành lâu dài, vô hạn.
        “Hôm nay tôi đã tìm được chân đạo, cái đạo mà tôi tưởng là không bao giờ có thể bước chân vào. Tôi không ngờ tôi lại gặp được cha Cao Phương Kỷ. Người đã làm một điều rất tốt là đã giúp tôi trở lại tìm được Chúa, trở lại đạo. Trong đạo Chúa có một chỗ mà mọi người cần phải biết là con người sau cái chết thể xác được sống hòai, sống mãi. Chúng ta phải tin, phải tin điều đó. Tin được điều đó thì mới thấy được đạo Chúa cao qúy, không có đạo nào cao được như thế.
        “Một lần nữa tôi xin cám ơn cha Cao Phương Kỷ cùng tất cả quý vị và quý bạn đã có mặt hôm nay để chung vui với tôi.”
        Về lại nam California, trong khi cặm cụi lo nội dung cho số DĐ tháng 9, một buổi chiều tôi nhận được thư của Hà Quân. Tôi mừng rỡ mở ra mới hay ông gửi cho tôi bài thơ viết tay: bài thơ có nhan đề là Thư Gửi Đức Giáo Hoàng với nội dung như sau:

THƯ GỬI ĐỨC GIÁO HOÀNG
Hà Thượng Nhân

Tôi chỉ là một tên dân nghèo hèn
Của nước Việt Nam nhỏ bé
Tôi chưa từng được diện kiến Đức Giáo Hoàng
Được hoạt động tông đồ trong Giáo Hội Kitô
Tôi tự hỏi: là một kẻ hồ đồ
Lại viết thư cho Đức Giáo Hoàng
Liệu có quá ngông cuồng không nhỉ?
Nhưng một lời nói của Cha tôi làm đổi thay tất cả;
“Vì quyền phép vô biên của Ta
Ta là chúa tể càn khôn
Cho nên Ta sống lại”,
Ôi lời nói nhu mì và khả ái
“Ta sống lại để làm gì?
Ta sống lại để trao ban cho ngươi Sự Sống
… Muôn đời được sống bình an”.

Từ đó Đạo của Người là Đạo của thế gian
Máu thịt Người là cơm bánh Thánh
Người ban phát sự sống cho bàn dân thiên hạ.
Nếu thực tâm rao giảng lẽ công bằng
Bằng một lời nói Cha ta đổi thay tất cả
Không còn là một sự ép buộc
Mà là lời mời gọi thiêng liêng
Mọi người đứng lên, mọi từng lớp đứng lên
Xây tự do công bằng cho nhân loại
Ở đời còn gì khả ái hơn là chính cuộc đời mình
Mà dám hy sinh
Nhân danh Cha đem lại công bình
Dựng lại Nước Trời ngàn đời cao đẹp
Lời Người là sắt,
Lời Người là thép
Và lẽ phải nguy nga
Và chính nghĩa thiết tha
Khiến mọi người tuân phục .
Tôi gặp Người trong niềm vui cùng cực
Trong đau khổ tuyệt vời
Tôi sống lại rồi! - cuộc sống đời đời
- Vĩnh cửu!
Cuộc sống không lo không nghĩ.
Cuộc sống có nghĩa có nhân
Cuộc sống bội phần khả ái
Còn có sức mạnh nào hơn:
- Niềm tin sống lại
Còn có nỗi vui nào hơn:
- Niềm Tin bùng vỡ
Từ đâu đó trái tim tôi nức nở
Bước chân trở về mà hồn rưng rưng phát khóc
Hôm nay giữa mọi người đông đúc
Giữa gia đình Tin Yêu,
Lời nói Cha làm sống lại Tình Yêu
Làm sống lại những tâm hồn bé
Tôi lại có công góp vào Hội Thánh
Hội Thánh của tôi, do chính mình sinh ra
do chính mình nuôi dưỡng.
Hội Thánh của tình thương,
Hội Thánh của tin yêu bác ái

Con dâng những lời thơ vụng dại,
lên Đức Giáo Hoàng kính yêu
Xin biến lòng tin của con thành cơm gạo sớm chiều
Xin biến lòng tin của con thành tình thương bất diệt.
Amen!

        Tôi nghĩ thầm: lời thơ của Hà Quân tự nhiên như hơi thở, như tiếng nói phát xuất từ trái tim đơn thành của ông, một người suốt đời đi tìm chân đạo vừa bước chân vào tòa nhà giáo hội, cất lên như một lời tự giới thiệu mình với vị đại diện Thiên Chúa ở trần gian: Giáo Hoàng.
        Đọc lại bài thơ của Hà Quân một lần nữa, bất giác tôi nghĩ tới một nhà thơ thuộc thế hệ trước ông: nhà thơ Bàng Bá Lân. Trong cuốn Chứng Từ Của Người Ra Đi (trang 240-246), ông Phạm Đình Khiêm có ghi lại cuộc đời của thi sĩ, nhất là khoảng 4, 5 năm cuối trước khi Bàng Bá Lân nhận Bí tích Thánh Tẩy tháng 2 và qua đời tháng 10 năm 1988, vì chứng tai biến mạch máu não lần thứ hai. Theo ông Phạm Đình Khiêm thì trong lần đột quỵ thứ nhất 4 năm trước khi vĩnh viễn ra đi, cảm nhận những tấm gương hy sinh, bác ái của những bạn bè và cựu học sinh người Công giáo, trong đó có hai chị em Hải và Thanh đã sớm chiều hiệp lực cùng những người thân trong gia đình ông hết lòng săn sóc, giúp đỡ, không quản vất vả khó nhọc, nên mầm giống đức tin Công giáo bắt đầu đâm bông kết trái trong ông.
        Dưới đây là bài thơ Bàng Bá Lân viết trên giường bệnh ngày 11 tháng 9 năm 1984 với tiêu đề Cảm Hóa để riêng tặng hai cựu học sinh của ông là Hải và Thanh. Bốn năm sau khi viết bài thơ này, Bàng Quân nhận Bí tích Thánh Tẩy để trở thành tín đồ Công giáo.

Cảm Hóa
(thương gửi hai em Hải, Thanh)

Ta vốn thiếu niềm tin từ thuở nhỏ,
Không bao giờ tin là có Thiên Đường.
Vì chỉ ham khoa học với văn chương,
Cũng chẳng biết Niết Bàn là đâu hết!
Từng thấy những sư sống không thanh khiết,
Và gặp nhiều linh mục chẳng chăn dân.
Cũng hám lợi danh, chức vị cõi trần,
Bỏ Bác Ái, Từ Bi, làm chính trị.
Ta chán ngán bọn lạm danh tu sĩ:
Cạo trọc đầu chưa hẳn đã là sư.
Ta buồn chán không muốn làm phật tử,
Còn nhiều bạn thương ta thì lại cứ
Muốn ta thành đệ tử Chúa Giêsu,
Đức Mẹ Maria, Đức Mẹ hiền từ,
Tặng kinh sách muốn cho ta nghiền gẫm.
Nhưng ta thấy đức tin chưa cần lắm,
Miễn làm sao không hại đến gia thanh.
Ngửa trông lên chẳng hổ với cao xanh,
Cúi mình xuống không thẹn mình với đất.
Song càng ngày càng thấy đời bạc ác,
Người với người, lang sói vẫn còn thua!
Thiếu niềm tin ta cảm thấy bơ vơ,
Nhưng chỗ tựa tinh thần chưa nhất quyết.

Từ gặp hai em, nghe lòng tha thiết,
Cảm mến thương hơn ruột thịt người thân.
Em đối với ta quá đỗi ân cần,
Nhất từ lúc ta gặp hồi vận nạn.
Chăm sóc thày thật hết lòng, không quản,
Sớm chiều vô bệnh viện chẳng hề sai.
Tiếp thức ăn và an ủi đêm ngày,
Thanh còn hát thày nghe kinh cầu nguyện.
Giọng du dương làm ta thêm quyến luyến,
Yêu thương người, yêu cả Chúa cao sang.
Giọng hát đưa ta vào cõi mơ màng,
Ta tưởng thấy cửa Thiên Đàng rộng mở.
Và từ đó nhìn Nhà Thờ ngờ ngợ,
Phải chăng đây là chỗ tựa tinh thần?
Vì tình thương dành cho khắp con dân,
Giầu bác ái ấy là con của Chúa.
Bây giờ đây ta thật lòng cảm hóa,
Nhờ hai em, con của Chúa cao
Càng thương em càng mến Chúa muôn vàn…
(11-9-1984)
Bàng Bá Lân

        Thoắt chốc, khởi đi từ trường hợp nhà thơ Bàng Bá Lân hai thập niên trước tới trường hợp nhà thơ Hà Thượng Nhân hôm nay, tôi liên tưởng tới những con đường trở về chân đạo khác nhau của những văn nhân nghệ sĩ quen biết, còn sống hoặc đã ra đi, trong khoảng 10 năm gần đây. Duyên Anh (Vũ Mộng Long), Vũ Thành An (tác giả những bản tình ca Không Tên thuở nào), Nguyên Sa (Trần Bích Lan). Bên cạnh đó là một nhà báo, một chính trị gia tên tuổi: bác sĩ Đặng Văn Sung. Tôi nhớ nhiều tới những kỷ niệm đã có với vị bác sĩ nguyên chủ nhiệm nhật báo Chính Luận và tác giả bài thơ Áo Lụa Hà Đông trong thời gian hai người chuẩn bị nhận Bí tích Thánh Tẩy năm nào.
        Với nguyên Nghị sĩ Đặng Văn Sung tôi đã may mắn được trao tận tay theo lời yêu cầu của ông bản thảo cuốn tâm bút Bên Vực Tử Sinh của tôi để ông đọc trong những tháng cuối đời. Riêng với nhà thơ Nguyên Sa tôi lại có cơ hội “múa rìu qua mắt thợ” khi vinh dự được ông ngỏ ý muốn tôi đọc một số đoản văn trong BVTS cho ông nghe một thời gian sau, khi tác phẩm đã được in thành sách,.