Viết Từ Canada
TAM TÒA:
CON ĐƯỜNG TỰ HỦY CỦA CỘNG SẢN
Mặc Giao
Kể từ khi cộng sản đàn áp dã man giáo sĩ và giáo dân tại Tam Tòa vào tháng 7-2009, người lên tiếng mạnh mẽ nhất với những lý luận vững chắc nhất không phải là một giám mục nào, mà là Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh thuộc Dòng Phanxicô, tu viện Đa Kao, Sài Gòn. Sau bài “Tam Tòa: chuyện nhỏ?!” được viết ngày 31-07-2009 (anh Trần Phong Vũ phân tích và bình luận trong số báo này), Linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh đã giảng một bài rất thẳng thắn và sâu sắc trong thánh lễ ngày 9 tháng 8 tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng, Sài Gòn. Thánh lễ này do các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế gốc giáo phận Vinh tổ chức.
Chúng tôi không thuật lại toàn bộ bài giảng, chỉ xin nhắc lại những điều chúng tôi cho là quan trọng và ý nghiã nhất:
1/ Giáo Hội phải trả giá: Giáo Hội Công Giáo VN được phép xây cất những nhà thờ, chủng viện, tu viện hoành tráng, số chủng sinh, linh mục gia tăng, các giám mục, linh mục, tu sĩ được đi nước ngoài như đi chợ. Tất cả những thứ “được phép” này đã tiếp tay cho chiến thuật tuyên truyền về tự do tôn giáo của nhà cầm quyền và phải trả giá bằng sự im lặng trước những sự kiện dân oan đòi đất, những người tranh đấu cho nhân quyền bị bắt bớ, việc mất đất, mất biển và vụ bauxite. Việc làm thinh của Giáo Hội trước những vấn đề này đã khiến người ta có cảm tưởng Giáo Hội tự tách mình ra khỏi cộng đồng dân tộc.
2/ Giáo Hội đã không làm bổn phận của mình: Giáo Hội xa lạ với người nghèo, lạnh lùng với các tôn giáo khác. Ủy Ban Truyền Thông Xã Hội chỉ là cỗ máy trùm mền. Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình, một định chế quan trọng của Giáo Hội, không được thành lập. Đạo chỉ còn là một thứ nghi thức bề ngoài.
3/ Hậu qủa: Tất cả những điều trên đã biến Giáo Hội thành đồ trang trí cho chế độ, đã làm cho hình ảnh của Giáo Hội và của Chúa Kitô có nguy cơ bị biến dạng. Điều này làm chúng ta lo âu hơn là mất vài miếng đất.
4/ Phải cầu nguyện cho những gì? Không phải chỉ cầu nguyện cho việc đòi lại vài miếng đất bị chiếm bất hợp pháp, dù tôn giáo cần không gian cần thiết để cầu nguyện, nhưng phải nhìn vấn đề một cách toàn diện. Vì vậy phải cầu:
Cho những người cầm quyền biết chúng ta không chấp nhận mãi mãi bị đối xử bất công,
Cho chúng ta ý thức là chúng ta không sống trên cung trăng, trên sao hỏa, nhưng sống với đồng bào, với đất nước Việt Nam,
Cho khát vọng tự do, dân chủ, công lý phải là khát vọng của cộng đồng tín hữu,
Cho sự đồng tâm nhất trí của cộng đồng tạo nên sức mạnh của lòng tin,
Cho các vị lãnh đạo Giáo Hội VN không phải trải qua kinh nghiệm đau thương như Giáo Hội Ba Lan: một tổng giám mục phải từ chức vì là cựu điểm chỉ viên của cộng sản,
Cho các mục tử biết tích cực tham gia vào việc tái lập công lý và hòa bình, vì “Linh mục thì nhiều, mục tử chẳng có bao nhiêu” (Thánh Âu-cơ-tinh).
Nếu giáo dân nói hay viết ra những điều trên, chắc chắn sẽ bị lên án là “chống cha chống Chúa”. Khi một linh mục thẳng thắn nêu lên những sự thật đau lòng và những ước mong cho Giáo Hội phải dấn thân hành động để khỏi làm biến dạng khuôn mặt của Chúa Kitô, hỏi có ai dám kết án vị linh mục này? Linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh không làm công việc “vạch áo cho người xem lưng”, nhưng vì “ở trong chăn” nên phải nói lên sự thật một cách can đảm. Sự can đảm càng lớn lao hơn khi những lời sự thật nhắm thẳng vào những vị lãnh đạo của Giáo Hội và giữa một bầy thú dữ luôn rình rập để phanh thây những ai dám tố cáo lòng lang dạ sói của chúng. Chúng ta hy vọng những lời sự thật này sẽ đánh động tâm tư các chủ chăn. Trong trường hợp các ngài đang có những suy nghĩ thận trọng để đưa ra một đường lối ôn hòa nhưng hữu hiệu, những lời phát biểu của Linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh sẽ là một đóng góp giá trị cho một đường lối mới, nếu có.
Khi kết thúc phần viết này, chúng tôi được đọc bản tin của Catholic World News đăng trên VietCatholic ngày 14-08-09, theo đó Hội Đồng Giám Mục VN cho phổ biến ngày 12-08-09 một lời tuyên bố kêu gọi đối thoại hòa bình về những cuộc đàn áp đang diễn ra nhắm vào giáo dân thuộc giáo phận Vinh. Hội Đồng Giám Mục tỏ mối quan tâm về những căng thẳng do việc tranh chấp đất đai giữa giáo dân và nhà cầm quyền địa phương, đặc biệt là những phương pháp cực đoan do chính phủ thi hành. Các giám mục cũng đòi hỏi nhà nước cải tổ luật đất đai và tôn trọng quyền sở hữu đất của công dân, nếu để nhà nước độc quyền quản trị như hiện nay, sẽ sinh ra lạm dụng và tham nhũng. Các giám mục cũng than phiền về việc các cơ quan truyền thông nhà nước không tôn trọng sự thật khi loan tin về các vụ tranh chấp. Như vậy là Hội Đồng Giám Mục VN đã có lên tiếng về vụ Tam Tòa thuộc giáo phận Vinh. Tuy nhiên, lời lên tiếng xem ra qúa yếu ớt, nếu không nói là qúa nể nang nhà cầm quyền trong khi đất nhà thờ bị phong tỏa, thánh giá Chúa bị lấy đi, 20 người trong đó có 2 linh mục bị đánh trọng thương, người gẫy tay, người bể đầu, người gần lòi con mắt, nhiều người khác bị bắt đi điều tra. Chúng ta không đòi hỏi một cuộc đối đầu mắt trả mắt, răng trả răng, nhưng lẽ ra Hội Đồng Giám Mục phải đòi truy nguyên trách nhiệm của những người gây ra vụ này, đòi bồi thường xứng đáng cho nạn nhân, trả lại đất nhà thờ và tự hậu chấm dứt những hành động dã man tương tự. Như vậy may ra nhà cầm quyền mới quan tâm phần nào và các nạn nhân cũng như toàn thể giáo dân mới được an ủi vì thấy con chiên không bị các chủ chăn bỏ rơi.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ VÀ NHÂN VĂN CỦA GIÁO PHẬN VINH
Giáo phận Vinh nằm trên địa bàn của ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, vùng đất cằn cỗi và nghèo nhất nước, lại lắm thiên tai, bão tố xảy ra hàng năm. Có lẽ điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đã tạo cho dân vùng này một ý chí sắt đá và sự cố gắng phấn đấu vượt bực để sống còn và cạnh tranh với đời. Chính vì vậy mà vùng này đã sản sinh ra nhiều nhân vật có tài cũng như nhiều nhân vật có tật: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Hồ Tùng Mậu, Đồng Sĩ Nguyên… Ai theo cộng sản thì là thứ cộng sản ác ôn và qúa khích nhất. Ai chống cộng thì cũng là những người không thể đội trời chung với cộng sản. Trong giai đoạn 1947-1954, việc đối đầu giữa giáo dân tập hợp trong Liên Đoàn Công Giáo và cộng sản rất gay go, vụ Quỳnh Lưu đã gây rúng động dư luận khi dân làng này rào làng giữ đạo và bị cộng sản tàn sát. Ngay sau Hiệp Định Genève 1954, một phong trào đòi di cư vào Nam đã nổi lên rất mạnh tại vùng này nhưng đã bị cộng sản đàn áp và che đậy khiến cơ quan Kiểm Soát Đình Chiến Quốc Tế không hay biết. Nhiều người bị nhốt tù. Nhiều người khác đã liều mạng vượt tuyến vào Nam hoặc trốn sang Lào. Theo tin từ trong nước, những năm gần đây, dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh đã bí mật thủ tiêu nhiều cán bộ cộng sản ác ôn. Nhà cầm quyền không tìm ra manh mối và phải ém nhẹm tin này.
Giáo dân địa phận Vinh là những người con của vùng đất này. Ngoài đức tin Công Giáo, họ cũng có đầy đủ cá tính của dân vùng “đất cầy lên sỏi đá”. Đó là cứng rắn, kiên cường, không sợ hãi, sẵn sàng tranh đấu cho điều mình tin. Cộng sản đụng tới giáo dân Thái Hà là húc đầu vào tường, nhưng khi đụng tới giáo dân địa phận Vinh là húc đầu vào đá. Sau khi sự việc xảy ra tại Tam Tòa, chỉ một lời kêu gọi của chủ chăn, Giám Mục Cao Đình Thuyên, đang tham dự Ad limina (gặp gỡ Đức Giáo Hoàng theo định kỳ) tại Roma gửi về là toàn bộ gần nửa triệu giáo dân tụ tập trong 178 nhà thờ ngày 2-8-2009 đã đồng thanh biểu lộ lập trường và dâng lời cầu nguyện. Ngày lễ Đức Mẹ lên trời 15-08-09, ngay từ 8 giờ sáng đã có hàng trăm ngàn giáo dân kéo về nhà thờ chính tòa Xã Đoài để dự lễ kính Đức Mẹ và cầu cho Tam Tòa. Đó là một cuộc tập họp đông đảo và nhiều ý nghiã. Cảnh đón chủ chăn trở về tại phi trường Vinh ngày 11 tháng 8 và suốt dọc đường dẫn tới nhà thờ chính tòa đã tạo một ấn tượng mạnh về tình đoàn kết và sự hiên ngang bầy tỏ lập trường của giáo dân. Ngoài việc tỏ nỗi hân hoan đón vị chủ chăn trở về với đoàn chiên đang gặp cơn bách hại, hành ngàn người với rừng cờ Hội Thánh còn muốn bầy tỏ cho nhà cầm quyền và những phần tử côn đồ biết là họ không sợ hãi trước những đe dọa và bạo lực.
Vị mục tử của giáo phận Vinh, Giám Mục Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, cũng là người của vùng đất này. Ngài sinh năm 1927 tại Hà Tĩnh, năm nay 82 tuổi. Tuy là vị cao niên nhất trong hàng giám mục Việt Nam, ngài vẫn còn khỏe mạnh về thể chất và minh mẫn về tinh thần. Ngài là vị mục tử nhân từ và năng động, có lập trường rõ ràng, dứt khoát. Khi vụ Thái Hà xảy ra, ngài đã dẫn ngay một đoàn linh mục Vinh đến Thái Hà để tỏ tình liên đới và tuyên bố: “Chuyện của Thái Hà cũng là chuyện của Vinh”. Trong thánh lễ mừng Đức Mẹ lên trời tại nhà thờ chính tòa Xã Đoài ngày 15-08-2009, Đức Cha đã tuyên bố một câu đánh động lòng người và biểu tỏ sự đồng tâm nhất trí giữa chủ chăn và đoàn chiên của giáo phận Vinh: “Giáo phận Vinh không phải chỉ có một Cao Đình Thuyên mà có cả 500,000 Cao Đình Thuyên”. Với bản lãnh kiên cường và với tuổi đời như vậy, ngài đâu có sợ hãi gì. Cộng sản sinh sự với linh mục và giáo dân của ngài là chắc chắn sẽ phải đương đầu với một khối “vững như bàn thạch”.
CON ĐƯỜNG TỰ HỦY
Theo lẽ thường của trời đất, người cai trị dân phải dùng “đức trị” để dân được sống an bình, thương yêu nhau và kính trọng người cai trị. Nếu dùng “lực trị” sẽ chỉ gây oán hờn và đưa đến bất ổn xã hội. Người quân tử dùng đức, kẻ tiểu nhân dùng lực: “Quân tử dĩ đức, tiểu nhân dĩ lực” (Tuân Tử). Chúng ta chẳng dám mong cộng sản biết dùng đức vì họ không phải là quân tử, nhưng chúng ta đã từng hy vọng ít ra họ phải có sự khôn ngoan cần thiết, biết tạo một xã hội ổn định, biết giải trừ những bất mãn giữa người dân và người cầm quyền để có thể cai trị dễ dàng và lâu dài. Ngược lại họ chỉ chủ trương gây chia rẽ và oán thù. Đuổi nhà, chiếm đất của người dân, tịch thu đất và cơ sở thờ phượng của các tôn giáo. Khi người ta đòi lại thì cho công an đánh đập thẳng tay, lại còn thuê côn đồ hoặc cho công an giả dạng thành nhân dân tự phát để chửi rủa, hành hung các nạn nhân trước sự vô cảm và bất động của các lực lượng an ninh đứng canh gác ngay đó. Hiện nay giáo dân Tam Tòa vẫn còn tiếp tục bị khủng bố. Theo tin từ Đồng Hới gửi đi ngày 11 tháng 8, bất cứ một giáo dân nào ra đường cũng có thể bị công an hay côn đồ hành hung. Một giáo dân bị người lạ đập vỡ cửa nhà, phá nát tivi, đồ đạc trong nhà, trong khi công an đứng bên ngoài bảo kê cho kẻ đập phá. Một số giáo dân buôn bán ở chợ đã bị bọn côn đồ xúi dục để những thành phần bất hảo ném những thứ dơ bẩn vào hàng quán của họ khiến họ hết đường sinh sống. Hình ảnh giáo dân tham gia các cuộc cầu nguyện được phóng lớn và dán trên các thân cây để bọn đánh thuê chém mướn dễ nhận diện và giở thủ đoạn. Các cơ quan truyền thông trung ương và địa phương suốt ngày xuyên tạc giáo dân Tam Tòa, kết án họ là những kẻ làm loạn, phá vỡ trật tự xã hội và an ninh công cộng. Việc này khiến đồng bào không Công Giáo hiểu lầm giáo dân là bọn phá hoại, chuyên môn đòi đặc quyền. Sự hiểu lầm này sẽ gây hậu qủa trầm trọng cho tình đoàn kết dân tộc và liên hệ hài hòa giữa các tôn giáo. Nó sẽ tác hại lâu dài, cả sau khi chế độ cộng sản xụp đổ. Nói tóm lại, những người cộng sản không quan tâm gì tới dân, tới nước, tới tương lai dân tộc. Họ chỉ cần giữ quyền bằng bất cứ giá nào, bất cứ phương tiện nào. Phương tiện ưu tiên họ dùng là gian dối, chia rẽ và bạo lực. Họ không có lương tâm, bất cần lẽ phải và nhất là bất cần dân. Điều này sẽ đưa họ vào con đường tự hủy, vì như Tuân Tử đã viết: “Vua là thuyền, thứ dân là nước. Nước chở thuyền, nhưng nước lại đánh đắm thuyền” (Quân giả chu dã, thứ dân thủy dã, thủy tắc chế tài chu, thủy tắc phúc chu).
Sau khi gây ra vụ Tòa Khâm Sứ và Thái Hà, cộng sản tưởng cứ áp dụng biện pháp bạo lực và dối trá là sẽ dẹp yên mọi chuyện. Sự thật, vấn đề Tòa Khâm Sứ và Thái Hà vẫn còn nguyên đó, ngọn lửa đã hạ nhưng lớp than hồng vẫn tiếp tục nóng, chỉ cần một cơn gió nhẹ là sẽ bùng trở lại. Cộng sản đã tính sai khi áp dụng cùng một biện pháp với giáo dân Tam Tòa. Phản ứng Tam Tòa còn mạnh hơn, đồng bộ hơn phản ứng Thái Hà. Thay vì làm cháy nhà, họ đã làm cháy rừng. Họ hãy chờ hậu qủa. Chúng ta không mong máu đồng bào phải đổ, người vô tội bị đánh đập và bị bắt vào tù. Nhưng nếu có thêm những vụ Thái Hà, Tam Tòa xảy ra dưới vĩ tuyến 17, từ Quảng Trị vào đến Cà Mau, thì ngày tàn của chế độ cộng sản sẽ đến nhanh hơn. Ung nhọt khi xưng tấy lên thì phải bể mới mong lành. Việc gì lãnh đạo các tôn giáo không làm thì tín đồ sẽ làm vì họ có đức tin và không có chức, quyền và lợi để sợ mất. Việc gì các đảng phái chính trị chưa thể làm thì nhân dân sẽ làm. Đừng coi thường dân và chê họ như rắn không đầu. Họ sẽ tạo ra đầu mới để thay thế những cái đầu cũ sơ cứng và hèn nhát. Con giun bị xéo mãi cũng quằn. Dân Việt Nam sẽ dùng nhiệt huyết và lòng tin để vùng lên đòi lại quyền sống của mình và tương lai đất nước. Lòng tin sẽ trở thành vô địch. Lòng tin không sợ gươm dáo vì lòng tin được dậy rằng: “ Kẻ nào dùng gươm sẽ phải chết vì gươm”.
VÀI CẢM NGHĨ SAU CHUYẾN HÀNH HƯƠNG
Mùa hè năm nay, chúng tôi đã lập chương trình 5 tuần đi thăm viếng thân nhân bạn bè ở châu Âu và hành hương những nơi thánh địa. Việc thăm viếng không có gì đáng nói dù chúng tôi vắng mặt ở châu Âu cũng khá lâu, 14 năm kể từ lần thăm viếng trước. Anh em, bạn bè gặp lại nhau chắc chắn phải vui. Về chương trình hành hương, trọng điểm của chúng tôi là Đất Thánh. Chúng tôi đã đi theo chương trình thăm viếng do một công ty du lịch Do Thái tổ chức. Trong một tuần lễ, chúng tôi đã được đi gần khắp nước Do Thái. Tôi không dám dài dòng kể lại những chi tiết. Tôi chỉ xin nêu một vài suy nghĩ và kinh nghiệm để chia sẻ với qúy độc giả.
Khi thăm biển Hồ Galilée (còn gọi là hồ Tiberias) và vùng lân cận ở miền Bắc Do Thái, nơi Chúa Giêsu đã khởi đầu ba năm rao giảng bằng việc kết nạp các tông đồ, đa số là những người đánh cá trên hồ này, tôi mới thấm thiá câu: “Con chim có tổ, con cáo có hang, Con Người không nơi dựa đầu” vì thấy toàn cảnh vùng này, cũng như hầu hết lãnh thổ Do Thái, trừ vùng sa mạc phiá Nam, toàn đồi núi lên đèo xuống lũng. Chúa và các môn đệ chỉ có phương tiện di chuyển duy nhất là lội bộ. Ban ngày giảng dậy và ngồì nghỉ dưới bóng mát của những cây vả (figues). Ban đêm ngủ bờ ngủ bụi, may mắn thì kiếm được một hang đá trên triền núi. Tôi tự hỏi làm sao chỉ trong ba năm, Chúa làm được nhiều việc như thế? nhất là phải đi bộ qua những vùng núi non cách nhau hàng trăm cây số từ Nazareth lên vùng Galilée rồi lại xuống Jerusalem. Đúng là Chúa không đòi tiện nghi, không cần ăn ngon, không cần nệm êm chăn ấm. Chúa bắt đầu đi giảng lúc tuổi 30 là thời điểm tốt nhất. Trước tuổi đó thì còn non. Sau tuổi đó thì qúa mệt mỏi cho thể xác con người.
Chúa đã làm nhiều phép lạ trên biển hồ Galilée (đi trên mặt nước, cho các tông đồ bắt được nhiều cá) và trên những sườn núi ngay cạnh hồ. Khi chúng tôi được đi thuyền trên biển hồ từ Capernaum lên thăm địa điểm nơi Chúa làm phép cho hai con cá và năm tấm bánh thừa nuôi 5,000 người (trong nhà thờ Church of Multiplication) và thánh đường trên sườn núi Mount of the Beatitudes, nơi Chúa giảng Tám Mối Phúc Thật, tôi nghĩ rằng Chúa là người rất yêu cảnh thiên nhiên và có óc thẩm mỹ, nếu không nói là có máu nghệ sĩ, bởi vì Chúa toàn chọn những nơi tuyệt đẹp để giảng dậy và làm phép lạ, chẳng những Chúa “enjoy” những cảnh này mà còn cho con cái ngàn đời sau cũng có cơ hội thưởng lãm khi viếng thăm những nơi Chúa đã dừng chân.
Khi thăm Nazareth, làng xưa của Đức Mẹ và Thánh Giuse, tôi thấy nơi Đức Mẹ được Thiên Sứ truyền tin (nay có vương cung thánh đường Basilica of Annunciation) là nhà của Đức Mẹ, chỉ cách nhà Thánh Giuse (nay là nhà thờ Thánh Giuse) một sân rộng. Như thế đối với thánh Giuse, Đức Mẹ là “Cô láng giềng”. Cưới được cô láng giềng thánh thiện, nhan sắc và có phúc được làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa, Thánh Giuse thiệt có tài và có phước lớn. Được vậy thì dù phải chịu cảnh “có tiếng không có miếng” cũng vẫn vui lòng!
Trọng tâm của cuộc hành hương là Jerusalem, nơi Chúa hoàn tất việc cứu chuộc nhân loại. Chúng tôi đã viếng vườn cây dầu ở ngoài vòng thành, nơi Chúa thường nghỉ ngơi và dậy dỗ các tông đồ và là nơi Chúa đã cầu nguyện trong đau đớn tột cùng đến nỗi toát cả mồ hôi pha máu trước khi nạp thân cho quan quân đưa đi hành hình. Trong vườn này, tôi thấy những cây dầu (olive) cổ thụ, gốc bự có những rễ lớn quấn quanh nhưng cành lá phiá trên vẫn xanh tươi. Người ta nói đó là những cây còn lại từ thời Chúa Giêsu. Tôi trầm tư không biết cây nào là cây Chúa đã qùy bên cạnh và thốt lên lời cầu nguyện: “Nếu có thể được, xin Cha cất chén đắng này. Nhưng đừng theo ý con, mà theo ý Cha”, cây nào là nơi Chúa đã nói với các môn đệ: “ Các con không ở cầu nguyện với Thầy một giờ được sao? Tinh thần thì sáng suốt nhưng thân xác thì nặng nề”? Cảnh xưa còn đây. Người xưa đâu rồi?
Trong nội thành, chúng tôi đã đi trên con đường ngày xưa Chúa vác thánh giá đi đến nơi chịu đóng đinh. Con đường không bằng phẳng, khi lên khi xuống. Tôi đi bộ còn thấy mệt huống chi Chúa phải vác thánh giá nặng và bị đánh đòn. Vì vậy Chúa đã phải ngã ba lần. Nơi Chúa ngã lần đầu còn di tích là những viên đá lót đường được giữ nguyên từ thời Chúa ngã. Đường thánh giá dẫn đến nơi Chúa chịu chết và được an táng. Nơi này đã biến thành một nhà thờ do nhiều hệ phái Công Giáo (Orthodox, Coptic, Arménien, Công Giáo La Mã…) chia nhau thờ phượng và quản trị nên được gọi là Church of All Nations. Chúa dậy phải thương yêu, hợp nhất, nhưng con cái Chúa đã không nghe lời. Ngay nơi Chúa được an táng, phe Arménien thì cho rằng mộ Chúa ở tầng cao của nhà thờ. Họ lập bàn thờ nguy nga ngay trên nơi họ tin là mồ Chúa. Các phái khác, kể cả Công Giáo La Mã, thì cãi rằng mộ Chúa ở tầng trệt của cùng nhà thờ, nên lập bàn thờ ở dưới. Chúng tôi chẳng biết tin ai nên viếng cả hai nơi cho chắc ăn. Khổ nỗi sau khi viếng mộ Chúa ở tầng trên, lúc xuống viếng mộ Chúa ở tầng dưới thì thấy dân chúng xếp hàng qúa dài. Theo ước lượng phải chờ 45 phút mới tới lượt mình, trong khi chúng tôi chỉ có thể lưu lại thêm 10 phút trước khi phải đi theo đoàn. Thấy chúng tôi băn khoăn, người hướng dẫn du lịch đề nghị chúng tôi chi 20 Đô la cho người giữ trật tự là sẽ được vào ưu tiên. Tôi đồng ý, đưa tiền cho ông ta. Không biết ông ta điều đình cách nào mà chỉ sau vài phút, chúng tôi được người hướng dẫn ngang nhiên mở cửa sắt dẫn vào mộ Chúa như những VIP trước một hàng dài dân chúng đang xếp hàng chờ. Lậy Chúa! Vì ham được viếng mộ thứ hai của Chúa mà con đã phạm tội hối lộ. Con đáng được Chúa quất dây lưng cùng với bọn buôn thần bán thánh và bị Chúa quở: “Nhà Cha ta là nơi cầu nguyện, không phải hang ổ trộm cướp”.
Khi viếng Bethlelem nơi Chúa sinh ra, tôi lại thấy con cái Chúa không có tình thương yêu hợp nhất. Nhà thờ xây trên nơi Chúa ra đời là độc quyền của Chính Thống Giáo Hy Lạp. Du khách và khách hành hương được viếng nhà thờ và hang Chúa ra đời. Nhưng ngay tại hàng song sắt bao quanh cung thánh, lúc nào cũng có mấy giáo sĩ râu xồm, mặc đồ đen, mặt hầm hầm ngồi canh gác, không cho ai tiến vào cung thánh, không cho làm ồn và nhất là không cho đọc kinh cầu nguyện lớn tiếng. Việc cầu nguyện và tế tự trong nhà thờ này chỉ dành riêng cho các giáo sĩ của nhà thờ. Mỗi giờ họ hát kinh và đi xông hương hang Chúa giáng sinh một lần. Tín hữu của các hệ phái khác nếu muốn chia sẻ lời Chúa, hát hoặc đọc kinh thì xin mời sang nhà thờ Công Giáo bên cạnh do người Pháp xây. Lậy Chúa! Có những người muốn độc quyền yêu Chúa và thờ Chúa theo kiểu riêng của họ. Ai làm khác họ là bị ghét bỏ, xua đuổi, lên án. Con nghe kể tại một thánh đường ngay giữa Jerusalem, có lúc các giáo sĩ của các hệ phái khác nhau đã tranh chấp đến đổ máu. Họ đánh đấm nhau nhân danh Chúa, nhưng thật ra chỉ là để thỏa mãn tự ái và bảo vệ quyền lợi của họ. Buồn thay, tệ nạn này đến nay vẫn chưa chấm dứt.
Không xa thành Jerusalem là vùng thung lũng xanh tươi Ein Karem, có nhà thờ Viếng Thăm (Church of Visitation) đánh dấu nơi Đức Mẹ đến thăm người chị họ là Thánh nữ Elizabeth. Thánh nữ đang có thai Thánh Gioan Tẩy Giả và Đức Mẹ cũng vừa mang thai Chúa Giêsu. Theo Thánh Kinh, khi hai chị em gặp nhau thì Thánh Gioan nhẩy mừng trong lòng mẹ. Như vậy chắc bụng Thánh Elizabeth phải đau lắm nhưng Bà vẫn vồn vã chào hỏi người em họ: “Tôi có phúc gì mà được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi?”. Lúc đó Đức Mẹ cất lời ngợi khen Chúa mà chúng ta quen gọi là kinh Magnificat :”Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và lòng trí tôi mừng vui trong Thiên Chúa Đấng cứu chuộc tôi…”. Gần đó có một con suối bây giờ vẫn còn chảy mà người ta tin rằng Đức Mẹ ra đây lấy nước mỗi ngày trong suốt thời gian ba tháng ở lại chơi với chị họ Elizabeth. Điều tôi thắc mắc là làm sao “bà bầu” Maria có thể vượt núi băng đèo đi bộ trên 80 cây số từ Nazareth tới Ein Karem để thăm “bà bầu” Elizabeth? Rồi khi lưu lại đây, “bà bầu” Maria còn phải ra suối lấy nước mỗi ngày. Xét theo lý luận của người trần mắt thịt ngày nay thì thai nhi trong bụng mẹ phải rất khỏe, rất hiền, không quậy phá, không làm mẹ bị động thai khi mẹ leo núi đường xa và lội suối lấy nước. Về phần Mẹ Maria, chắc chắn Mẹ phải có một sức khỏe rất tốt, thích hợp với cách sống thời đó, nơi đó. Thêm nữa, Đức Mẹ còn rất trẻ khi mang thai nên không ỳ ạch như những bà uống thuốc ngừa thai hàng chục năm mới chịu có bầu. Nhưng điều quan trọng hơn hết là niềm hạnh phúc trong lòng đã giúp Mẹ vượt qua mọi khó khăn, vất vả. Niềm hạnh phúc trở nên lớn lao hơn khi được chia sẻ với người khác, trong trường hợp này là với bà ch࿋ Elizabeth, đúng theo luật tự nhiên:“niềm vui sẽ lớn hơn, nỗi buồn sẽ nhò đi khi được chia sẻ”.
Nói chung, cuộc hành hương Đất Thánh đã cho chúng tôi cơ hội củng cố thêm đức tin vì nhìn thấy tận mắt nguồn cội đức tin của mình, đuợc viếng những nơi Chúa, Đức Mẹ, Thánh Giuse, Thánh Elizabeth và các Thánh Tông Đồ đã sống, được đi trên những đoạn đường Chúa đã đi. Chỉ có một điều đáng tiếc là vì đi theo đoàn với chương trình bận rộn, thăm bốn năm nơi mỗi ngày, nên không có thời giờ ở lại lâu nơi mình thích, không có thời giờ để trầm tư, cầu nguyện và đưa hồn về qúa khứ. Tuy nhiên khó có cách lựa chọn nào khác vì hầu hết khách hành hương đều bị hạn chế về thời giờ, phương tiện nên phải đi theo đoàn mới có thể thăm viếng được nhiều nơi trong một thời gian ngắn.
Về kinh nghiệm hành hương Thánh Địa, tôi thấy chúng ta nên chọn thời gian hành hương vào mùa Thu hay mùa Xuân. Mùa Đông thì lạnh lẽo và âm u. Mùa Hè như thời gian chúng tôi đi thì qúa nóng, có ngày nhiệt độ lên tới 41 độ Celsius. Đừng quên rằng khi đi thăm nhiều nơi thì phải đi bộ ngoài trời, trèo cao, xuống dốc giữa cảnh đồi núi Do Thái. Vì thế phải kiếm một đôi giầy mềm mại, đế thấp. Bà nào cô nào làm điệu đi giầy kiểu đế cao là có dịp ôm chân khóc chỉ sau ngày hành hương đầu tiên. Kinh nghiệm cuối cùng là nếu muốn đi thăm Đất Chúa thì phải đi lúc còn khỏe mạnh. Đợi tới khi gối mỏi chân chồn mới đi thì chỉ có nước nằm ôm giường khách sạn.
Sau khi rời Do Thái trở lại Pháp, chúng tôi đi hành hương Paray Le Monial, nơi Chúa Giêsu hiện ra với Thánh nữ Magueritte Marie vào cuối thế kỷ 17, tỏ cho thánh nữ trái tim thương yêu của Người và truyền cho thánh nữ phổ biến lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa. Chúng tôi cũng trở lại viếng Đức Mẹ Lộ Đức sau nhiều năm vắng mặt để cầu nguyện và để tìm lại khung cảnh thân thương và thánh thiện nơi hang Đức Mẹ hiện ra, suối nước thiêng, đàng thánh giá đi quanh núi, giúp tâm hồn lắng đọng sau những ngày tháng sống giữa cuộc đời bon chen, sôi nổi.
Điểm hành hương cuối cùng gây cho tôi rất nhiều xúc động là làng Ars trong vùng Bourgogne, không xa thành ph࿑ Lyon, nơi Thánh Jean-Marie Vianney đã sống như một cha sở nhà quê khiêm hạ. Cha sinh năm 1786, tạ thế năm 1859, thọ 73 tuổi. Sau khi chịu chức linh linh mục, Cha được cử đến coi một nhà nguyện tại làng Ars nghèo nàn, chỉ có 230 người dân. Từ hai bàn tay trắng, Cha đã xây cất thánh đường và biến nơi đây thành một xứ đạo sốt sắng, năng động. Nhưng không phải những cơ sở vật chất làm Cha được kính phục, chính đời sống linh mục gương mẫu, khiêm nhường, tận hiến và nghèo khó đã làm cho Cha trở thành một vị thánh lẫy lừng. Cha thương lo cho từng con chiên, tìm cách cứu rỗi từng linh hồn, thăm viếng từng người già yếu bệnh tật, nuôi trẻ mồ côi, giúp ơn kêu gọi, lập nhà nữ tu, thức dậy từ 1 giờ sáng để qùy trước Thánh Thể, sau đó giải tội cho hàng ngàn người. Mỗi ngày Cha ngồi tòa giải tội từ 14 đến 16 tiếng. Bổn đạo quanh vùng và cả những nơi xa kéo nhau tới xưng tội với Cha để được Cha soi thấu tâm can, cho những giải gỡ nhân từ, những lời khuyên dịu ngọt có khả năng thay đổi cả cuộc đời.
Làm việc nhiều như thế nhưng Cha không lo gì cho bản thân mình. Thực đơn của Cha là bánh mì đen và khoai tây luộc. Khi thăm khu nhà Cha sinh sống, chúng tôi thấy chiếc nồi luộc khoai còn treo trên bếp và được kể rằng Cha luộc khoai một lần ăn trong 5 ngày, trong khi lúc nào Cha cũng có một ổ bánh trong người để gặp ai đói thì cho. Chúng tôi cũng thấy chiếc áo chùng thâm rách do Cha tự tay vá lại với những sợi chỉ thô và đường vá vụng về. Mọi thứ đồ dùng của Cha đều thô sơ, nghèo khó, trừ tủ sách bià da gáy mạ là tài sản đáng giá nhất của Cha. Trước cảnh này, tôi ao ước các linh mục nên đến hành hương nơi đây để suy nghĩ, tự kiểm điểm và học hỏi tấm gương sống động cho đời linh mục, thay vì đi du lịch Việt Nam hay những nơi vui vẻ khác.
Cha Thánh Vianney không làm việc gì vĩ đại lừng lẫy, nhưng sự tận tụy hy sinh mỗi ngày của Cha cho con cái Chúa đã khiến Cha trở thành một vị đại thánh, một gương mẫu tuyệt diệu cho các linh mục. Ngày 12-04-1905, Đức Giáo Hoàng Pio X ra sắc chỉ phong Thánh Linh mục Gioan-Maria Vianney, Cha Sở họ Ars, là quan thầy tất cả các linh mục Pháp và các lãnh thổ thuộc nước Pháp. Ngày 20-12-1935, Đức Giáo Hoàng Pio XI ra tông thư công bố đặt Cha Thánh Gioan-Maria Vianney là Thánh Bổn Mạng của toàn thể các cha sở trên hoàn vũ. Đúng là “Chúa đã trông đến sự thấp hèn của tôi tá Chúa và từ nay muôn đời sẽ khen tôi là người có phúc” (Kinh Magnificat).
Khi qùy trong nhà nguyện trước trái tim của Cha Thánh được đặt trên bàn thờ, tôi đã thành tâm cầu nguyện cho tất cả các linh mục, những vị tôi quen biết và những vị tôi chưa hề gặp, những vị đã làm ơn cho tôi cũng như những vị không thuận hảo với tôi. Tôi nhìn bức vẽ chân dung phóng lớn của Cha đặt trước bàn thờ và nổi gai ốc khi đụng đôi mắt Cha. Tia mắt sắc và hóm hỉnh của Cha như muốn nói với người đối diện: “Ta biết hết lòng dạ của anh rồi!”. Lúc đó chỉ còn cách xưng tội với Cha như lúc Cha ngồi tòa thuở xưa. Sợ, nhưng thật hạnh phúc!