Hai Ngày Ba Lễ Lớn
Tản Mạn Buồn Vui

Đaminh Nguyễn Lăng Chính

        LTS.- Bài tản mạn này của Đaminh Nguyễn Năng Chính từ trong nước gửi ra, thuật lại ba biến cố diễn ra trong hai ngày 08 và 09-9-2009. Đó là lễ tấn phong hai tân Giám Mục Phát Diệm, Thái Bình và lễ an táng đức cha Phaolô Lê Đắc Trọng, nguyên GM phụ tá TGP Hànội. Dưới đây là trích đoạn phần chính bài viết sau khi tác giả đóng góp những ý kiến xây dựng liên quan tới việc tổ chức và điều hành những ngày lễ lớn trong các giáo phận

Những bất ngờ khó hiểu
        Có một số bất ngờ trong thánh lễ truyền chức giám mục Phát Diệm.
        Bất ngờ 1: Ban Tổ chức đã không dành cho Đức TGM Ngô Quang Kiệt một vai trò nào: không chủ phong, không phụ phong, không chúc mừng!
        Bất ngờ 2: Đức TGM không có vị trí ở hàng ghế đầu mà ngài lại có một vị trí khiêm tốn ở hàng ghế sau, chỗ bên ngoài cùng, nơi đầu dãy, chứ không phải ở giữa.
        Bất ngờ 3: Thánh lễ trọng thể như vậy, mà trong phần giới thiệu của Đức Giám Mục Thanh Hoá, nguyên giám quản Phát Diệm, Đức TGM Hà Nội, lại “được” giới thiệu không trọng thể bằng hai đội trống kèn Tam Tổng và Ba Làng, Thanh Hoá.
        Bất ngờ 4: Trong phần cám ơn của Đức Tân Giám Mục, thì Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, Trưởng Giáo tỉnh Hà Nội, nơi giáo phận Phát Diệm là thành viên, lại không được nhắc đến dù chỉ 1 lần, trong khi Đức Tân Giám mục đã hào phóng cám ơn riêng nhiều giám mục, hào phóng cám ơn các đại biểu quý cấp lãnh đạo ban ngành đoàn thể chính quyền trung ương và địa phương.
        Những cái “bất ngờ” này khiến cho có những người không hài lòng và đặt thêm nhiều câu hỏi về hiện tình Giáo Hội Việt Nam. Nghe một cha kể lại, khi chứng kiến lễ truyền chức giám mục này, Đức cha Phaolô Cao Đình Thuyên đã phát biểu rằng: “Thánh lễ phong chức này không biết nên khóc hay nên cười đây!” Phải chăng, rút kinh nghiệm từ những “bất ngờ” trên đây, ngày hôm sau, trong thánh lễ khai mạc sứ vụ của Đức Tân Giám Mục Thái Bình, người ta thấy vai trò của Đức TGM Hà Nội được thể hiện một cách rõ nét và Ban Tổ chức cũng đã không quên cám ơn riêng Đức TGM Hà Nội trong bài cám ơn trọng thể của cha xứ nhà thờ chính toà Thái Bình?

Những khẩu hiệu và biểu ngữ
        Ở Phát Diệm cũng như ở Thái Bình, cộng đoàn đã vỗ tay reo hò, cổ vũ nhiệt liệt Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, khi giới thiệu đến tên ngài. Thực ra điều ấy không có gì lạ và nó đã diễn ra từ hồi năm ngoái trong thánh lễ phong chức giám mục ở Bắc Ninh và ở Sài Gòn. Từ khi Đức TGM Hà Nội trở thành một dân oan, đồng hình đồng dạng với những người khốn khổ, lên tiếng đòi công lý và sự thật, thì ngài đã có chỗ trong trái tim nhiều người.   
Tình yêu mến ấy dịp này được thể hiện bằng những dấu hiệu hữu hình. Trong khu vực nhà thờ Phát Diệm, nhiều giáo dân và tu sĩ đã phất cờ vàng trắng mang tên Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, nhiều người già trẻ đeo các dải băng và mũ mão trên đầu bày tỏ tình yêu kính và cảm phục ngài. Khi trông thấy ngài, nhiều người đã hô to rằng: “Chúng con yêu mến Đức Tổng”, “Đức Tổng muôn năm”, “Chúng con yêu mến sự thật, công lý và hoà bình”. v.v.
Dọc theo lối đi của đoàn đồng tế và rải rác khắp quảng trường nhà thờ Chính toà Phát Diệm và Thái Bình, có những băng rôn trắng, đỏ, vàng, xanh được giăng ngang ngực, vừa tầm mắt người đi, hoặc được giương lên không trung. Ngoại trừ một số băng rôn cổ vũ hai Đức Tân Giám Mục và Đức cha Cao Đình Thuyên, thì số còn lại biểu dương Đức TGM Hà Nội. Đây là nội dung của một số biểu ngữ mà chúng tôi chụp được:
        “CHÚNG CON YÊU MẾN ĐỨC TGM HÀ NỘI!”, “CẢM PHỤC ĐỨC CHA NGÔ QUANG KIỆT!”, “HIỆP THÔNG VỚI ĐỨC TGM NGÔ QUANG KIỆT”, “ĐỨC TGM HÀ NỘI, VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH HI SINH MẠNG SỐNG VÌ ĐOÀN CHIÊN”, “ĐỨC TGM GIUSE, CHÚNG CON Ở BÊN NGÀI!”, “ĐỨC TGM HÀ NỘI TRONG TRÁI TIM CHÚNG CON”, “ĐỨC TGM HÀ NỘI, CHỨNG NHÂN CỦA CÔNG LÝ VÀ SỰ THẬT”.v.v. “ĐỨC TGM HN, I LOVE YOU”; “ĐỨC TGM HN, CHA HIỀN”; “ĐỨC TGM HN, VỊ NGÔN SỨ CỦA THỜI ĐẠI”; v.v.
        Đang lúc Đức Tân Giám Mục Phát Diệm chủ trương HIỆP THÔNG, đang lúc Đức Giám Mục giảng thuyết trong thánh lễ truyền chức kêu gọi sự HIỆP NHẤT, thì chúng tôi thấy những biểu ngữ và khẩu hiệu trên đây là sự hiệp thông, hiệp nhất sống động, cụ thể và cao đẹp nhất, chan chứa tình người, tình Chúa trong  đức tin và tình yêu. 

Vị ngôn sứ lên tiếng
        Kết thúc lễ tang các giám mục, linh mục được tặng một cuốn hồi ký “Những câu chuyện về một thời” của Đức cha Phaolô Lê Đắc Trọng. Mở ra đọc thì thấy nội dung vừa đơn sơ, mộc mạc, giản dị, vừa sâu sắc, dí dỏm, hấp dẫn. Trong tập hồi ký, Đức cha Phaolô đã nói lên nhiều sự thật đau đớn của xã hội và Giáo Hội. Dưới đây là một số trích đoạn trong chương cuối:
        “Giám mục đoàn yếu, nhiều vị tuổi già, bệnh tật, lại ở những vị trí quan trọng. Thiếu đoàn kết, chia rẽ theo miền, theo địa phương, tuy chưa đến độ trầm trọng. Vị thì chỉ lo quyền lợi của giáo phận mình, không quan tâm mấy đến quyền lợi chung; vị khác lo bảo vệ vinh quanh (học vị), hầu hết nhút nhát sợ sệt, nhất là các vị miền Nam, vì luôn mặc cảm chiến bại. (…). Không thiếu những vị kỳ thị Giáo phận to nhỏ, thầm mơ ước và thậm chí nếu có thể, vận động cách nào đó để được chuyển vào những vị trí cao sang...” ( tr.219)
        “ Vì các vị chủ chăn như thế, thì hàng linh mục làm sao hoàn hảo được. Giám mục thế nào thì linh mục cũng thế và kém xa nữa!”. Miền Bắc ít linh mục, ít phức tạp. Miền Nam nhất là Sài Gòn, nhiều linh mục, rất phức tạp. (...) Cộng sản thịnh hành, không sợ trí thức cho bằng tôn giáo” ( tr.220).
        “Những ấn loát muốn được ra mắt, phải dán nhãn hiệu “Đoàn Kết”. Các tác phẩm mất giá một phần, bị nghi ngờ. Nay dưới nhãn hiệu “Xuất bản của Toà Tổng Giám Mục”. Lãnh tụ đã ngự vào Toà rồi. Hết kỳ thị!”( tr.225).
        “Có dư luận cho rằng: miền Bắc nói chung, Hà Nội nói riêng, không thích cho người Nam ra Bắc. Điều đó không đúng. Nếu miền Bắc có sợ, thì sợ điều này: vì dụ Đức cha Lâm mà mang theo sự nhẹ nhàng, dễ dãi với Đoàn Kết, dễ thân người quyền thế, thì sợ thật! Đức cha Sang đi Thái Bình, nhẹ cho Hà Nội một phần, vì ngài nhẹ nhàng dễ dãi với Đoàn Kết mà ở địa phận Thủ đô thì tai hại cho toàn thể giáo đoàn Việt Nam. Miền Bắc nhất là Hà Nội, đã trải qua bao vất vả để giữ toàn vẹn lòng trung thành, bây giờ thẳng hoặc lại lâm cảnh như Sài Gòn, thì khốn khổ! Mong muốn miền Nam nhưng phải là những đấng có orthodoxie hẳn hoi, đã được thử thách. Khốn nỗi những vị được thử thách, trung kiên thì lại không có cơ hội may mắn! Thành ra miền Bắc phải chịu cái tiếng oan là không thích miền Nam. Ước muốn của người viết dòng này là phải san bằng cái hố Nam Bắc...” ( tr.226).
        Không ai ngờ vị giám mục tuổi cao, sức yếu lại có những lời thẳng thắn, mạnh mẽ, “kinh thiên động địa” trên đây. Nếu không phải là người yêu mến Giáo Hội, âu lo khắc khoải cho tương lai của Giáo Hội, chắc chắn không thể viết ra những sự thật thấm thía như vậy! Sự thật này có thể mất lòng ai đó trong đạo ngoài đời, thậm chí gây hiểu lầm, hoang mang ít nhiều đối với ai quen thần thánh hoá các đấng bậc, nhưng đấy là sự phản tỉnh, sự sám hối, là tiếng nói cần thiết để các thành phần dân Chúa đối diện với chính mình, với cuộc sống, từ đó kiên tâm dò tìm con đường rao giảng Tin mừng, kiên tâm bảo vệ, xây dựng và phát triển Giáo Hội!
        Đọc xong cuốn hồi ký tôi hiểu thêm được phần nào tinh thần của các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân Hà Nội. Tôi tin rằng khi về nhận chức TGM Hà Nội, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã có sự chuyển biến trong nhận thức và hành động, đồng thời đã kế thừa và phát huy truyền thống sống đạo cao đẹp, kiên cường, bất khuất của Giáo phận.
        Xin cám ơn Toà TGM Hà Nội đã kịp thời in ấn và phát hành cuốn hồi ký này đúng ngày an táng Đức cha Phaolô. Thiết tưởng đây là một cách thức tri ân và tôn vinh Đức cha Phaolô một cách cao đẹp và xứng đáng, đồng thời là một chọn lựa can đảm trên con đường làm chứng cho công lý và sự thật, bảo vệ sự độc lập của Giáo Hội, bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản theo tinh thần và hành động của Đức cha Phaolô lúc sinh thời ./.