Viết Từ Canada
NHỮNG GÌ SẼ XẢY RA NẾU
ĐỨC CHA KIỆT PHẢI RA ĐI?
Mặc Giao
Trong thời gian gần đây, tin đồn
Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt bị ép buộc hay tự ý xin từ chức đã được tung
ra, khiến nhiều người thắc mắc và âu lo. Việc Đức Cha Kiệt từ chức, nếu xảy ra,
sẽ là một dấu hiệu khuất phục của Giáo Hội Công Giáo trước đòi hỏi của nhà cầm
quyền Cộng sản, vì nhà cầm quyền, sau vụ tòa Khâm Sứ cũ và Thái Hà, đã công khai
yêu cầu giới hữu quyền của Giáo Hội “xử lý nghiêm minh” Giám Mục Ngô Quang Kiệt.
Vì chưa có lời đính chánh chính thức
nên sự thắc mắc và âu lo của giáo dân vẫn còn nguyên vẹn. Cụ thể, ngày 6-9-2009,
một số linh mục và giáo dân đã gửi thư cho Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, Chủ Tịch Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam, thỉnh cầu một số vấn đề, trong đó vấn đề đầu tiên được
nêu ra là “Việc Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội xin từ chức”:
“Cho đến giờ phút này, sự việc Đức
TGM Ngô Quang Kiệt từ chức, thực hư như thế nào thì không ai biết rõ, vì chưa có
một thông tin chính thức. Ông bà ta đã từng nói: “Có lửa mới có khói”. Chắc hẳn
phải có một điều gì đó đang xảy ra. Vậy cứ giả xử lời đồn thổi về việc Đức TGM
Ngô Quang Kiệt xin từ chức là có thật, thì quyền chấp nhận đơn từ chức này thuộc
về quyền quyết định tối hậu của Đức Giáo Hoàng… và nếu Đức Giáo Hoàng chấp thuận,
thì theo chúng con nghĩ, sẽ là một việc vô cùng đáng tiếc và có thể rất tai hại
cho Cộng Đoàn Dân Chúa tại Tổng Giáo Phận Hà Nội nói riêng và toàn thể Cộng Đồng
Dân Chúa nước Việt Nam nói chung. Giáo sĩ cũng như giáo dân Hà Nội một lòng tin
tưởng và gắn bó với vị mục tử của mình, Đức TGM Ngô Quang Kiệt, đã dám sống chết
với đoàn chiên. Nếu Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt phải ra đi, tức khắc sẽ gây
nhiều xúc động và tạo thêm nhiều chia rẽ trầm trọng trong Giáo Hội CGVN kể cả
Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam hải ngoại. Vì vậy chúng con khẩn thiết kính xin Đức
Cha trình bầy vấn đề này với Đức Giáo Hoàng để Ngài được rõ và xin Ngài không
chấp nhận đơn từ chức của Đức TGM Ngô Quang Kiệt, nếu thực sự Đức Cha Kiệt đã có
nộp đơn xin từ chức”.
Những người ký đầu tiên dưới lá thư
này là LM Phạm Sơn Hà ở Đức và hai LM Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Văn Thông ở Hòa
Lan, sau đó là rất nhiều giáo dân VN tại Đức và Hoa Kỳ. Lá thư được phổ biến
rộng rãi để lấy chữ ký ở khắp nơi. Nếu thư này được phổ biến ở Việt Nam, tôi
chắc nhiều giáo dân cũng sẽ ký.
Một sự việc đáng ghi nhận khác: Ngày
8-9-2009, trong lễ tấn phong tân Giám Mục Phát Diệm Nguyễn Năng, giữa một rừng
người tham dự buổi lễ, người ta thấy những biểu ngữ rất lớn ghi những hàng chữ:
Đức Tổng Giám Mục Hà Nội vị mục tử
nhân lành
Đức TGM vị ngôn sứ của thời đại
Giáo dân Tổng Giáo Phận Hà Nội yêu
mến Đức Tổng Giuse
Chúng con luôn vâng phục và đồng hành
cùng Đức Tổng
……………………
Như vậy là giáo dân Hà Nội, đặc biệt
là giáo dân gốc giáo phận Vinh sinh sống ở Hà Nội, đã vác biển ngữ từ thủ đô về
trưng tại Phát Diệm nhân ngày đại lễ, có đủ mặt văn võ bá quan đạo đời và nhiều
chục ngàn người d, để bày tỏ tâm tình và ước vọng của họ cho mọi người thấy rõ.
Ban tổ chức buổi lễ cũng ưu ái cho họ căng biển ngữ ở những địa điểm dễ thấy
nhất để mắt người và ống kính các máy chụp hình, quay phim có thể ghi nhận rõ
ràng.
Việc từ chức của Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã trở thành một vấn đề nhậy cảm, nhất
là đối với giáo dân Hà Nội. Nhậy cảm đến nỗi khi Đức Cha Kiệt đi nghỉ ở Dòng
Châu Sơn, Ninh Bình, mệt mỏi sau nhiều ngày lễ lạc, linh mục Chánh Văn Phòng Tòa
Tổng Giám Mục Hà Nội cũng phải ra thông cáo chính thức ngày 12-09-2009 để mọi
người đều biết, khỏi hoang mang khi thấy Đức Cha vắng mặt ở Hà Nội. Vì vậy, giả
dụ có một vị nào khác được cử về thay Đức Cha Kiệt trong giai đoạn này, chắc
chắn vị đó sẽ gặp nhiều khó khăn vì chủ chăn mới sẽ gặp một đoàn chiên còn qúa
nặng tình với vị chủ chăn cũ và thất vọng trước hành động đầu hàng của Giáo Hội
đối với yêu sách của nhà cầm quyền trong việc thay người lãnh đạo tinh thần của
họ. Tòa Thánh và Hội Đồng Giám Mục VN có muốn tổng giáo phận Hà Nội rơi vào tình
cảnh như thế không?
Tôi nghĩ rằng tin đồn thay thế Đức
Cha Kiệt không phải là vô căn cứ. Trước hết về phía nhà cầm quyền. Họ muốn giải
quyết cho dứt vụ Tòa Khâm Sứ và Thái Hà. Họ không muốn vụ này còn âm ỉ như đống
than hồng chỉ chờ một cơn gió là lại bùng lửa lên. Ngày nào Đức Cha Kiệt còn ở
Hà Nội thì đống than vẫn chưa tàn. Họ không muốn thấy một lãnh đạo tôn giáo ở
ngay giữa thủ đô đương cự với họ về công lý và tài sản. Họ có thói quen áp đặt
và ra lệnh, không có thói quen đối thoại và nghe lời phê bình. Họ thích làm cha
thiên hạ, nên không thể chấp nhận việc họ ra lệnh mà người khác không nghe. Thêm
vào đó là thái độ sợ mất mặt kiểu mấy hương lý kỳ hào nhà quê đỏ mặt tiá tai cãi
lý sự cùn để dành lẽ phải về mình. Vì thế họ đã xuyên tạc Đức Cha Kiệt trên các
cơ quan truyền thông nhà nước, cho côn đồ chửi rủa và đòi giết Đức Cha. Cuối
cùng họ đã chính thức yêu cầu Giáo Hội xử phạt Đức Cha.
Về phía Hội Đồng Giám Mục Việt Nam,
có nguồn tin cho rằng nhiều vị không hài lòng về thái độ cứng rắn của Đức Cha
Kiệt, cho rằng thái độ này chỉ gây thêm khó khăn cho Giáo Hội, nhất là sự khó
khăn có thể lan lây tới những giáo phận do các vị cai quản mà từ lâu nay đã có
sự cộng tác “tốt đạo đẹp đời”. Nhiều vị cũng nghĩ rằng nếu Đức Cha Kiệt còn trụ
ở Hà Nội thì Giáo Hội Công Giáo VN sẽ mất một ghế hồng y, vì nhà nước cộng sản
sẽ không bao giờ chấp thuận cho Đức Cha Kiệt làm hồng y giáo chủ Hà Nội. Do đó,
các vị này có thể kín đáo bầy tỏ quan điểm với Tòa Thánh để yêu cầu Tòa Thánh
quan tâm tới những “thiệt hại” cho Giáo Hội Việt Nam nếu Đức Cha Kiệt vẫn tiếp
tục tại chức ở Hà Nội.
Cuối cùng, thái độ của Tòa Thánh cũng
có những điều mâu thuẫn dễ gây thắc mắc. Trước hết, Tòa Thánh tỏ thái độ không
nhượng bộ trước những đòi hỏi vô lý của chính phủ Hà Nội. Phái đoàn Tòa Thánh do
Đức Ông Pietro Parolin cầm đầu chỉ họp với Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Quốc
Cường một phiên tại Hà Nội ngày 16-2-2009 và hai bên đã hủy bỏ phiên họp thứ nhì
được dự trù vào ngày hôm sau 17/2. Không bên nào công bố lý do việc hủy bỏ phiên
họp, nhưng có nhiều phần chắc là cuộc thảo luận đã gặp bế tắc vì vấn đề thay thế
Đức Cha Kiệt. Tuy nhiên, cộng sản nắm được điểm yếu trong lập trường của Tòa
Thánh. Đó là Tòa Thánh rất mong muốn thiết lập bang giao với Hà Nội. Các đại
diện ngoại giao của Tòa Thánh không bỏ lỡ cơ hội nào mà không nói tới việc này.
Riêng Đức Ông Pietro Parolin còn “hồ hởi” loan tin, ít nhất hai lần, Đức Giáo
Hoàng có thể thăm viếng Việt Nam trong một tương lai gần. Cả hai lần đều bị Hà
Nội phủ nhận. Cộng sản dùng miếng mồi bang giao để nhử kể từ khi Thủ Tướng
Nguyễn Tấn Dũng yết kiến Đức Giáo Hoàng Bênêdictô 16 tại La Mã năm 2007. Mục
đích của họ là muốn Tòa Thánh ảnh hưởng trên các giám mục VN, nhất là những vị
có lập trường kiên cường, để các ngài có thái độ hòa hoãn, dễ thương và cộng tác
với chế độ cộng sản. Người ta không thể hiểu tại sao Tòa Thánh lại “kết” việc
bang giao qúa mặn đến thế? Phải chăng có bang giao là có thể giải quyết được mọi
chuyện, kể cả chuyện cộng sản tôn trọng nhân quyền và tự do tôn giáo? Hãy nhìn
bang giao giữa những quốc gia Nga Sô, Trung Quốc với Hoa Kỳ và các nước Tây Âu.
Họ có liên hệ ngoại giao không gián đoạn, họ đều tuyên bố chiến tranh lạnh đã
chấm dứt, nhưng họ vẫn luôn luôn tìm cách chơi gác nhau nếu không nói là phá
nhau trong mọi trường hợp, vẫn duy trì hàng chục ngàn hỏa tiễn có đầu đạn nguyên
tử nhắm vào nhau. Bang giao để sẵn có đường giây nói chuyện khi cần, để dễ thăm
dò nhau, để gia tăng việc làm ăn buôn bán, nhưng không hết cạnh tranh và thù
nghịch. Chúng ta đừng nghĩ rằng nhà cầm quyền Hà Nội sẽ đổi chính sách về tôn
giáo khi có bang giao với Vatican.
Đường lối đối ngoại của Tòa Thánh do
Phủ Quốc Vụ Khanh (tức Bộ Ngoại Giao) Tòa Thánh hoạch định và thi hành. Một nhân
vật Việt Nam, Đức Ông Phanxicô Cao Minh Dung mới được bổ nhiệm chức vụ đặc trách
Đông Nam Á sự vụ tại Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh. Lần đầu tiên Đức Ông Dung tham gia
phái đoàn điều đình với Hà Nội trong phiên họp tháng 2 đầu năm 2009. Với chức vụ
hiện tại, Đức Ông là người có trách nhiệm theo dõi hồ sơ Việt Nam. Người ta chưa
biết lập trường của Đức Ông ra sao. Dĩ nhiên Đức Ông phải tuân theo lập trường
của Tòa Thánh, nhưng Tòa Thánh chắc chắn cũng phải quan tâm tới những nhận định
và đề nghị của Đức Ông. Liệu có ai gần gũi Đức Ông để trình bầy thực trạng của
Giáo Hội Việt Nam và ước vọng của giáo dân Việt Nam, hay chỉ có đại sứ của Hà
Nội tại Rome đi lại làm làm “lobby”? Chắc chắn Tòa Thánh không hy sinh Giáo Hội
Việt Nam, nhưng nếu Tòa Thánh có chính sách thích hợp với Hà Nội, kể cả việc
thay thế Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt để đổi lấy bang giao thì hậu qủa sẽ ra
sao?
Trong trường hợp Đức Giáo Hoàng chấp
nhận sự từ chức của Đức Cha Ngô Quang Kiệt vì bất cứ lý do gì, hậu qủa sẽ vô
cùng tai hại. Tai hại đầu tiên là sự thất vọng lớn lao của giáo dân Việt Nam
khắp nơi, cả trong lẫn ngoài nước, không chỉ riêng Hà Nội, về việc các cấp thẩm
quyền Giáo Hội đã bỏ qua ý nguyện của giáo dân để làm vui lòng nhà cầm quyền
cộng sản. Dù thực tâm Giáo Hội không chủ trương như vậy và có những lý do thầm
kín không tiện nói ra, nhưng sự thất vọng và mất tin tưởng của giáo dân sẽ xảy
ra không thể tránh và từ đó sẽ nảy sinh những hành động và lời nói chống đối,
tạo sự chia rẽ ngay trong nội bộ Giáo Hội, làm mất sự hiệp thông và cảm thông
giữa đoàn chiên và các chủ chăn. Trong khi đó những người cầm quyền cộng sản
ngồi rung đùi cười vì họ được hưởng món qùa “bất chiến tự nhiên thành”, kệ cho
cha con trong Giáo Hội gấu ó lẫn nhau, tự làm suy yếu nội lực, nhà nước khỏi
mang tiếng đàn áp. Thế là tiêu tùng tất cả hào khí đấu tranh cho công lý và tự
do, là dập tắt những ngọn lửa đã bùng lên ở Thái Hà, Tam Tòa và sẽ không còn
ngọn lửa nào khác có thể nhen nhúm trong tương lai. Điều tệ hại hơn nữa là các
thành phần nhân dân thuộc các tôn giáo khác đang theo dõi cuộc đấu tranh của
giáo dân Công Giáo với nhiều hy vọng và chờ đợi nhập cuộc cảm thấy họ đã đặt hy
vọng và cảm tình lầm chỗ. Họ có thể nghĩ rằng Giáo Hội Công Giáo coi trọng quyền
lợi và sự “tiện nghi” của riêng mình hơn quyền lợi của dân tộc và hơn cả lý
tưởng cao đẹp của đạo.
Chúng tôi không phóng đại và bi thảm
hoá vấn đề trong việc nêu những hậu qủa có thể xảy ra như trên. Chúng tôi cũng
không qúa đề cao vai trò của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. Nhưng dù sao cũng
phải công nhận Đức Cha Kiệt đã trở thành biểu tượng của một chủ chăn chấp nhận
mọi khó khăn, nguy hiểm, vu khống và nhục mạ để bảo vệ đoàn chiên và Giáo Hội,
chưa nói tới những mục tiêu cao rộng khác. Vì thế, sự ra đi của Đức Cha, nếu có,
sẽ gây nhiều thiệt hại chẳng những cho Giáo Hội Công Giáo mà còn cho cả cuộc đấu
tranh cho công lý và tự do của toàn dân Việt Nam. Chúng tôi ước mong Tòa Thánh,
các vị giám mục Việt Nam và chính Đức Cha Kiệt hãy nghĩ tới những hậu qủa này.
Chúng ta cũng cần nâng đỡ tinh thần và cầu nguyện cho Đức Cha Kiệt. Ngài hiện bị
nhiều thứ áp lực, có nhiều điều phải suy nghĩ. Vì vậy Ngài mới thường đến Dòng
khổ tu Châu Sơn ở Nho Quan, Ninh Bình để tĩnh tâm, cầu nguyện và “giải stress”.
Các linh mục và giáo dân khởi xướng
bức thư gởi Đức Cha Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục VN ngày 6-9-2009, cũng như những
giáo dân căng biểu ngữ trong lễ tấn phong Giám Mục Phát Diệm đã có phản ứng
nhanh và đúng lúc. Nhiều người đã nghĩ tới vấn đề nhưng còn lay hoay, chưa tìm
ra cách thức hành động. Chúng ta phải làm mọi cách, phải lấy thêm nhiều sáng
kiến, để các thẩm quyền Giáo Hội, từ thấp nhất tới cao nhất, từ địa phương tới
trung ương nhìn ra sự trầm trọng của vấn đề và hành động một cách khôn ngoan,
hợp tình hợp lý. Một khi Đức Giáo Hoàng chấp nhận đơn từ chức của Đức Cha Kiệt,
việc xoay lại tình thế sẽ rất khó khăn.
Dù sao chúng ta cũng phải giữ niềm hy
vọng, vì ngoài ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta còn có những bằng chứng để mong rằng
việc này sẽ không xảy ra. Bằng chứng thứ nhất là thư ngày 25-09-2008 của Đức Cha
Chủ Tịch Nguyễn Văn Nhơn, thay mặt Hội Đồng Giám Mục VN, trả lời Ủy Ban Nhân Dân
Thành phố Hà Nội, trong đó có đoạn: “Qúy Ủy Ban có kiến nghị Hội Đồng Giám Mục
Việt Nam “xem xét, xử lý và đề nghị xử lý nghiêm minh theo qui định của Giáo hội
đối với Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, linh mục Vũ Khởi Phụng, các giáo sỹ Nguyễn
Văn Khải, Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Ngọc Nam Phong”. Sau khi xem xét, chúng tôi
thấy các vị này không làm bất cứ điều gì ngược lại giáo luật hiện hành của Giáo
hội Công giáo”. Bằng chứng thứ hai là trong những ngày 6, 7, 8, 9 tháng 10, 2009
vừa qua, chúng ta thấy hình ảnh của Đức Cha Kiệt và các đức cha khác xuất hiện
đầy dẫy trên các phóng sự, từ lễ tấn phong Đức Cha Năng ở Phát Diệm đến lễ tạ ơn
của Đức Cha Đệ ở Thái Bình, hết Đức Cha Năng thăm Thanh Hóa, lại lễ an táng Đức
Cha Trọng ở Nam Định. Chỗ nào cũng thấy các ngài vui vẻ, vô tư (insouciant) như
không có chuyện gí xảy ra. Chỗ nào cũng thấy khung cảnh huy hoàng, giáo dân đông
nghẹt, diễn nguyện uốn éo đủ kiểu, những lẵng hoa cao hơn đầu người. Ai dám nói
Giáo Hội Việt Nam có vấn đề?
TƯỞNG NHỚ ÔNG THẦY CŨ CỦA TÔI
Tôi cảm động đến rơi lệ khi xem phóng
sự hình ảnh về lễ an táng Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng ngày 9-9-2009 tại nhà thờ
lớn Nam Định. Tôi nhìn thấy hình Ông Thầy cũ của tôi nằm trong quan tài kính,
thấy cảnh trong và ngoài ngôi nhà thờ nơi 55 năm về trước tôi đã được Ông Thầy
tận tình dậy dỗ và thương yêu, thấy hàng ngàn, hàng vạn đồng đạo đồng xứ của tôi
chít khăn trắng để tang Người Cha tinh thần mà lẽ ra tôi cũng phải có mặt để
cùng chia sẻ niềm thương nỗi nhớ với họ.
Tôi học tiểu học tại trường Lê Bảo
Tịnh, Nam Định, khi Cha Trọng về coi xứ và làm hiệu trưởng từ năm 1949. Trường
nằm bên hông nhà thờ nên cha có mặt hầu như thường xuyên tại trường. Bất cứ tên
học trò nào nghịch phá (trong đó có tôi) đều không lọt khỏi đôi mắt sáng của
cha. Cha đẹp trai, mũi cao, hơi gẫy. Tính tình nghiêm khắc nhưng rất thương yêu
học sinh. Tôi không bao giờ thấy cha la lớn hay đánh một học sinh nào. Thật trái
ngược với thầy giáo Thành (lớp Ba) và thầy giáo Hiền (lớp Nhì) dữ đòn nổi tiếng.
Cha hướng dẫn chúng tôi sinh hoạt Thiếu Nhi Thánh Thể. Cha làm tuyên úy cho đoàn
Hướng Đạo Công Giáo mà tôi là một đoàn viên khi tôi học trường trung học Nguyễn
Khuyến. Dù đã rời trường tiểu học của cha, tôi vẫn sinh hoạt trong giáo xứ. Cha
vẫn thương và coi tôi như một đệ tử. Khi Đức Giám Mục địa phận Trịnh Như Khuê từ
Hà Nội về thăm con chiên Nam Định, cha đã cử thằng lỏi tì 11 tuổi là tôi viết và
đọc diễn văn chào mừng Đức Cha nhân danh hàng xứ. Trước hàng ngàn người tụ tập
trong nhà “préau” (nhà chơi) của trường Lê Bảo Tịnh, tôi đã phải đứng trên chiếc
ghế đẩu cho cao để đọc diễn văn. Khi thì cha ra lệnh cho tôi viết kịch Thánh
Phaolô trở lại để tập cho mấy thằng bạn, sẵn sàng trình diễn trong ngày lễ Thánh
Phaolô quan thầy của cha. Khi thì cha bắt chúng tôi đóng vai mấy thằng qủy con
bôi nhọ nồi đen thui trong một vở kịch trình diễn gây qũy cho giáo xứ. Lúc rảnh
rỗi, chúng tôi lẩn quẩn chơi quanh nhà thờ để chờ cha sai vặt. Nhờ thế, tôi và
một vài tên nhóc khác có thể ra vào nhà xứ và phòng áo của nhà thờ một cách tự
do, không có thầy già, ông trùm ông biện nào ngăn cấm. Tình cha con thắm thiết
không cần nói nên lời. Một việc khiến tôi nhớ đời xảy ra ngày trước khi tôi rời
Nam Định để di cư vào Nam. Tháng 5-1954, quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia VN
đã bỏ Nam Định và nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Việt và rút về Hà Nội. Tôi phải học
chương trình đệ Tứ (năm thứ tư trung học) với Việt Minh từ tháng Năm cho đến
tháng 12 khi cha mẹ tôi quyết định ra Hải Phòng để vào Nam. Chiều hôm trước ngày
ra đi, tôi muốn xưng tội trước khi lên đường. Người Công giáo miền Bắc thời đó
có thói quen xưng tội trước khi đi xa, trước là để xin ơn bình an, sau là để lỡ
gặp tai nạn hay hòn tên mũi đạn thì cũng đã sẵn sàng, khỏi sợ chết tươi ăn năn
tội chẳng kịp. Khi lảng vảng bên hông nhà thờ, tôi thấy Cha Trọng từ nhà xứ đi
ra. Tôi tiến lại xin cha cho xưng tội. Cha bảo vào tòa giải tội trong nhà thờ
đợi cha. Giữa không gian tranh tối tranh sáng vì nhà thờ không bật đèn, đốt nến,
tôi đã xưng tội sốt sắng. Cha khuyên bảo tôi lâu hơn thường lệ. Và trước khi rời
tòa, cha nói bằng giọng buồn buồn: “Cha chúc con đi xa bình an”. Câu chúc của
cha làm tôi sững sờ và cảm động. Sững sờ vì làm sao cha biết ngày mai tôi sẽ ra
đi? Thật ra khi thấy tôi xin xưng tội bất thường giữa lúc người ta đang kéo nhau
bỏ xứ đi Nam là cha đã hiểu rồi. Nhưng lúc đó tôi thực sự cảm động, và cả sau
này mỗi khi nhớ lại, về câu chúc biểu lộ tình thương của cha đối với tôi. Đó
cũng là lời vĩnh biệt, vì từ nay cha con sẽ không còn gặp nhau nữa.
Khi tôi đọc tin Cha Lê Đắc Trọng được
phong Giám Mục Phụ Tá Hà Nội năm 1994, tôi đã khoe ầm lên với cả nhà là Ông Thầy
cũ của tôi đã được lên chức. Tôi đâu có biết Ngài đã hai lần từ chối chức giám
mục do Đức Hồng Y Trịnh Như Khuê đề nghị. Cuối cùng Ngài phải nhận vì Ngài thấy
đã đến lúc cần ghé vai chống đỡ Giáo Hội và Tổng Giáo phận trước những phá phách
và mưu chước của ma qủy. Tôi mới được đọc mấy trang hồi ký “Những câu chuyện về
một thời” của Đức Cha Trọng do Vietcatholic chụp lại. Tôi không ngờ Ông Thầy của
tôi “ngon” như th྿. Bề ngoài trông Ông có vẻ hiền lành, nhưng Ông đã viết những
bài như dao chém sắt, thí dụ đoạn Ông đánh bọn giáo gian Ủy Ban Đoàn Kết Công
Giáo Yêu Nước:
“…Đây không phải là lần đầu tiên tôi
lưu ý Chính Quyền về vai trò tai hại đó (vai trò của Ủy Ban Đoàn Kế Công Giáo
Yêu Nước - chú thích của người viết). Ngày 24-12-1987, tại Đại hội Mặt trận TP
SàiGòn, tôi đã góp ý với Mặt Trận về Ủy Ban Đoàn Kết: “ Nên đặt lại lý do tồn
tại của Ủy Ban vận động Công giáo yêu nước”. Thực tế cho đến nay, Ủy Ban chỉ lôi
kéo một số nhỏ, chưa phản ảnh bao nhiêu tâm tư nguyện vọng của quần chúng Công
giáo, chỉ nói theo nhà nước, ảnh hưởng rất nhỏ bé, nếu không phải là gây thêm
nghi kỵ, hiểu lầm. Đằng khác, cuộc ‘vận động’ của Ủy Ban thường nặng hình thức
và có tính cách biểu diễn. Cả nước chẳng còn giới nào được gọi là yêu nước. Hai
tổ chức hiếm hoi khác có mang danh nghiã ‘yêu nước’, là ‘nhà giáo yêu nước’ và
‘trí thức yêu nước’ thì đã được đưa vào ‘bảo tàng viện’ từ lâu rồi…”
Đức Cha cũng dùng Hồ sơ Chân Tín để
“gọt” thêm bọn giáo gian: “… nhóm ‘yêu nước’ nào đó, chỉ theo mệnh lệnh nhà nước
để tạo ra thứ đó (Nay chắc tôi phải nói: “làm thày dùi xúi dại nhà nước để lập
công!”, hầu có một mầu sắc nhân dân vô tình họ hại nhà nước”). Về đề nghị ‘tách
các Tử Đạo Thừa sai ngoại quốc’ tôi bảo họ là thứ’công giáo ăn cháo đá bát’.
“Ngày 15.08.1989, tôi cùng 16 linh
mục, tu sĩ, giáo dân khác cũng viết: “Chúng con đã chán ngấy tình trạng đầu nậu,
trung gian trục lợi cho cá nhân, phe nhóm mà không để cả lợi ích của Giáo Hội
lẫn lợi ích của Đất Nước lên trên”.
Có lẽ vì lời chỉ trích của Đức Cha
Trọng mà Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo thấy nhột, đã bỏ chữ “yêu nước” để thay bằng
“Việt Nam” (Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam). Đức Cha tuy sống ở ngoài Bắc
nhưng cũng ngon lành gọi Mặt Trận (Tổ Quốc) Thành Phố Sài Gòn, không gọi là Mặt
Trận TP Hồ Chí Minh. Những vị giám mục, hồng y khác nghĩ sao khi cứ vô tư dùng
tên “Tổng Giáo Phận TP Hồ Chí Minh”, một cái tên không ai ra văn bản ép mà cứ
vui vẻ nhận?
Thôi, nói nữa lại sợ mang tiếng “mẹ
hát con khen hay”, hoặc “thấy sang bắt quàng làm họ”. Tôi chỉ xin viết đôi giòng
tưởng niệm vị Thầy Cũ của tôi, để ít ra một lần tôi được bầy tỏ lòng tri ân với
người đã thương yêu dậy dỗ tôi cả chữ nghiã lẫn đức tin vào giai đoạn đầu đời.
Với tuổi đại thọ 92, Đức Cha Lê Đắc Trọng đã sống một phần đời 16 năm liên tục
tại Nam Định trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử đất nước và Giáo Hội Việt
Nam. Khi phục vụ tại Hà Nội, Ngài vẫn thường về thăm lại giáo xứ thân yêu xưa.
Ngài thương cảnh, nhưng chắc chắn cũng thương người. Vì thế Ngài đã muốn được
nằm nghỉ vĩnh viễn giữa con cái Nam Định trong lòng ngôi thánh đường mà ngài đã
đổ nhiều công tu bổ, bảo vệ, và cũng là nơi Ngài đã lao tâm tổn trí chăn giắt,
bao bọc đoàn chiên trong những cơn khốn khó. Tôi hy vọng có ngày sẽ được về
viếng mộ Ngài. Không biết lúc đó Cha có nhận ra con không? vì khi đi con là một
thiếu niên đang tuổi lớn, khi con về, mái tóc đã điểm sương!