Cố GM Phaolô Lê Đắc Trọng
Nghĩ Về Chủ Nghĩa Cộng Sản
Không phải chờ tới những năm sau này, ngay sau khi Việt Minh mới cướp được chính quyền, đức cha Phaolô Lê Đắc Trọng đã nhận ra bộ mặt thật của chủ nghĩa cộng sản núp đàng sau những chiêu bài dân tộc.
Chương sách có tiêu đề “Nước Ta Trên Con Đường Vào Thiên Đường” trong Hồi Ký tập 3 phát hành trong tang lễ của ngài ở nhà thờ chính tòa Nam Định hôm 09-9-2009, sau khi nêu câu hỏi “Tại sao người ta nghi ngờ và không muốn hợp tác với Việt Minh?”, đức cha Phaolô viết nguyên văn như sau:
Là vì người ta biết
hoặc nghi ngờ Việt Minh là Cộng sản. Danh từ Cộng sản tự nhiên gây một cái gì
đáng sợ hãi trong đầu óc người Việt Nam. Những người thông thạo tin tức, hoặc
nghe nói về những lối tàn bạo người cộng sản đã dùng ở Liên Xô, ở Tây Ban Nha
trong những năm 30 của thế kỷ trước, nên đương nhiên là họ sợ hãi. Từ đầu người
Việt Nam đã biết Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa “tam vô”: Vô gia đình, vô tổ
quốc, vô tín ngưỡng. Nếu theo Chủ nghĩa Cộng sản triệt để, thì phải đi tới đó.
Cộng sản chủ trương duy vật, thì làm gì còn tôn giáo, còn thần thánh và Cộng sản
cho là thuộc Chủ nghĩa duy tâm. Ông Mác đã đưa ra lời tuyên ngôn: “Vô sản trên
thế giới, hãy đoàn kết lại”. Cộng sản chủ trương quốc tế, như vậy là xoá đi các
biên giới quốc gia hoặc gia đình. “Vô sản thế giới”. Vô sản thế giới là anh em,
là một gia đình thế giới. Cộng sản phải đi đến mục tiêu đó: quốc tế hoá giới vô
sản.
Ông Phơbach, Ănghen, Mác, Lênin là
cha đẻ của Chủ nghĩa Cộng sản. Họ xây dựng chủ nghĩa của họ trên Chủ nghĩa duy
vật (matérialisme). Theo duy vật, thế giới này chỉ có một sự thật, dựa trên các
cơ cấu nền tảng bất biến (structure). Duy tâm (idélisme) chỉ là thượng tầng cơ
sở (supertructure) thay đổi nền kinh tế. Người ta ví duy vật là cặn, là dầu
trong chiếc đèn, còn duy tâm là ánh lửa chập chờn, lúc còn lúc tắt.
Xã hội chủ nghĩa luôn có đối nghịch, nó lớn lên do sự đối nghịch đó, luôn có
phản đề (antithèse). Hai phản đề đối nghịch nhau rồi lại đi đến tổng hợp, rồi từ
tổng hợp nảy sinh phản đề. Đó là thuyết phản đề và tổng hợp (thèse, antithèse và
synthèse). Chủ nghĩa cộng sản dựa trên qui luật đó. Nhưng khi các phản đề đối
nghịch nhau và đi đến tổng hợp là Chủ nghĩa cộng sản, thì nó ngừng lại. Vì Chủ
nghĩa cộng sản là tuyệt đỉnh rồi, không còn phải phấn đấu để tiến lên nữa. Có
thể nói đó là thiên đình mà loài người phải mơ ước và tranh đấu để đạt tới.
Trong cuộc tranh đấu để tiến hoá đó,
tôn giáo không giúp gì, mà lại cản việc tiến. Vì tôn giáo dạy rằng có thiên đàng
là cùng đích. Và khi con người mơ ước thiên đàng, thì không còn muốn tranh đấu
gì ở trần gian. Do đó tôn giáo bị coi như là cái gì nó mê hoặc quần chúng –
thiên đàng ngay ở trần thế, khỏi tìm đâu xa. Không những tôn giáo không giúp
chiến đấu để đạt tới thiên đàng trần gian, ngược lại nó còn làm tê liệt sức
chiến đấu, nên Các Mác cho tôn giáo là a-phiến (opium) làm tê liệt con người
trong cuộc đấu tranh. Chống phá tôn giáo là tất nhiên, vì họ coi tôn giáo là
thuốc đầu độc quần chúng.
Giáo Hội đối với Cộng sản cũng có
những nhận định nghiêm khắc hoặc nhẹ nhàng khác nhau.
Chẳng hạn trong Thông điệp Chúa Cứu
Thế (Deum Redemptoris), Cộng sản bị liệt vào hạng “bản chất là xấu” (intrinse
est malus). Chính là thế, xét theo chủ nghĩa, vì bản chất chủ nghĩa là duy vật,
nên nó là vô thần. Không những thế, người cộng sản đúng nghĩa phải là người
chiến sĩ vô thần (militant athé). Người chiến sĩ đó không những không tin gì
thần thánh, mà còn chiến đấu, còn phá huỷ niềm tin nơi kẻ khác. Nói đến Cộng sản,
sợ Cộng sản phần lớn là do họ phá huỷ đức tin, bách hại những kẻ tin, làm cho
người ta sống theo chế độ vô thần. Không có cuộc bách hại đạo trong lịch sử nào
lại tinh vi như các cuộc bách hại tôn giáo do chế độ Cộng sản. Họ còn tự hào, họ
phá đạo một cách “khoa học”, nghĩa là khéo léo, có quy mô, có phương pháp.
Những cách biểu lộ của Cộng sản và
những nhận định của những vị chức trách trong Giáo Hội khiến người Công giáo
không còn cách nào để hợp tác với người Cộng sản. Đàng khác, khi người Công giáo
giơ tay cho người Cộng sản nắm lấy, người Công giáo không đủ trình độ, không đủ
ý thức, không đủ khả năng để mà đứng vững. Thế nên, không hợp tác với Cộng sản
là cách thức cần thiết để khỏi bị Cộng sản lôi cuốn. Ngược lại, người Công giáo
cũng không được vào Đảng, học sinh chỉ được học hết tiểu học là cùng, người làm
công thì chỉ được nhận những việc thấp hèn, không tên tuổi. Nói tóm lại trong Xã
hội Cộng sản, họ là những công dân hạng hai hay ngoài lề.
Khi Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII phân tích về Cộng sản, thì người Công giáo có một
lối đi. Theo sự phân tích của Đức Thánh Cha, nơi Cộng sản phân biệt Chủ nghĩa
Cộng sản và những người cộng sản. Về chủ nghĩa thì không thể chấp nhận được. Còn
những người cộng sản, họ cũng là những con người và có thể hợp tác với họ như là
những con người, trong lãnh vực nhân linh.
Vào năm 1954, Cộng sản của Đệ Tam
Quốc Tế vẫn còn giữ nguyên vẹn bộ mặt, y như người ta đánh giá: “Chủ nghĩa tam
vô” là cái người ta sợ hãi nơi người cộng sản. Vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn
giáo. Từ trước tới đây, người ta chỉ nghi ngờ Việt Minh là Cộng sản. Việt Minh
cũng úp úp mở mở về xuất xứ đó, lúc giấu giếm, lúc thò đuôi ra.
Trong Hội nghị ban chấp hành Đảng
Cộng Sản từ ngày 10 đến 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh được thành lập. Ông Nguyễn
Ái Quốc (lúc này chưa gọi là Hồ Chí Minh) đại diện Quốc tế Cộng sản chủ trì với
sự tham dự của Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt tại rừng Khu Năm
Pắc-Bó, Cao Bằng. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, ngày 19-5-1941, Hội nghị
quyết định thành lập Việt Nam độc lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh), thay cho
mặt trận dân tộc Thống Nhất phản đế Đông Dương. Như vậy ngày nay Đảng cộng sản
Đông Dương trở thành Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cũng phải hàng chục năm nữa sau khi
cộng sản phải từ Đảng Lao Động, mới thoát thân thành Đảng Cộng Sản Việt Nam. Lúc
thì giấu giếm mình là Cộng sản, khi thay hình đổi dạng, tự đặt mình là Đảng Lao
Động, nhưng có lúc phải khẳng định mình là Cộng sản, để trong việc giành độc lập,
người ta thấy đó là công lao của người cộng sản, chứ không phải quốc gia.
Cũng theo lối mập mờ đó, họ đi cả với
Việt Cách, tức là Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội. Ông Hồ Chí Minh đến dự đại
hội của Đảng này tổ chức tháng 3-1944 tại Liễu Châu, Trung Quốc. Việt Cách do
ông Nguyễn Hải Thần lãnh đạo, trong đó có Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1946, ông
Nguyễn Hải Thần về nước, làm đồng Chủ tịch với Hồ Chí Minh, do quân Tàu đóng ở
Việt Nam nâng đỡ. Quân Tàu lúc này ở miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật và
giúp đỡ ông, cho ông ở Phủ Toàn Quyền cũ, với tư cách Chủ Tịch Nước, ông Chủ
Tịch được nâng đỡ hơn ông Hồ Chí Minh.
Tháng Chạp 1941, khi chiến tranh giữa
Pháp và Việt Nam bùng nổ, ông Nguyễn Hải Thần và Đảng của ông rút lui về Tàu.
Việt Minh và ông Hồ Chí Minh nắm toàn quyền trong mặt trận đánh Pháp cho đến
1954. Pháp và Việt Minh không ai thắng ai, đều đi đến Hội nghi Geneve, và Hội
nghị kết thúc 20-7-1954. Chia đôi nước Việt Nam thành hai miền Bắc và Nam.
Trong chương sách có tiêu đề “Quốc
Hội I Của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” cũng trong HK tập 3, đức cố Giám mục
Lê Đắc Trọng viết:
Thế là chế độ mới có những chiếc áo
hợp pháp: Chính phủ. Cơ quan lập pháp: Quốc hội. Đủ lông đủ cánh, song còn sợ
những thế lực ở bên vặt lông, bẻ cánh. Đó là quân Tàu giải giáp quân Nhật ở Bắc,
quân Anh giải giáp quân Nhật ở Nam, người Pháp còn sót lại đã phỗng tay trên,
họ đã đi được với quân Anh; như trong vụ trao Nam Bộ Phủ cho Pháp. Ở miền Bắc,
quân Tàu bắt cá hai tay: cả Pháp, cả Việt Nam. Việt Nam thì cả Việt Minh cả Việt
Cách. Đối với người Tàu, thì Việt Minh thi hành cái lối thông dụng của mọi thời
đại, mà sau này người ta gọi là ‘lót tay’. Nghe đâu ông Lư Hán, người đứng đầu
quân giải giáp mà được ‘lót tay’ hay ‘cùm tay’ bằng những kilô vàng ròng thu
được trong kỳ quyên góp được gọi là ‘tuần lễ vàng’.
Người Pháp vẫn lăm le trở lại Đông
Dương. Ở miền Nam, họ đã đi đôi, và đến chỗ thay thế quân Anh. Ở miền Bắc, họ
cũng chơi lối đó với quân Tàu, với sự đồng ý ngầm của Đồng Minh. Nói đúng hơn
của Mỹ - Anh, vì các nước này vẫn chủ trương không để Cộng sản ngóc lên. Ở chỗ
này Việt Minh cũng khéo léo, biết rằng thế nào Pháp cũng đổ bộ lên được. Lúc
này họ đang ở ngoài Vịnh Bắc Bộ, họ ngầm điều đình ở Pháp – tướng Leclair, tổng
chỉ huy quân sự Thái Bình Dương và ông Santeny, nhà chính trị vẫn khéo léo đi
với Cộng sản.
Hiệp ước “Vịnh Hạ Long” 03-3-1946
được ký kết. Hôm nay, các đường phố Hà Nội trên các bức tường, đều dán những
bích trương bản ký kết Hạ Long giữa ông Hồ Chí Minh và Pháp, ai nấy đều ngỡ
ngàng và phẫn nộ: “Sao mà quay đầu nhanh chóng thế?” Từ đảo chính Nhật, Chính
phủ Trần Trọng Kim, bao là nỗ lực quét sạch mọi tàn tích Pháp, cả những bức
tượng đầm xòe, biểu tượng thần tự do, tượng toàn quyền Paul Bert đều bị dân
chúng buộc giây vào cổ lôi xuống, Các đài kỷ niệm Jean Dupuis, Tứ Dân ở vườn hoa
Canh nông đều bị dẹp bỏ. Thế mà ngày nay, quân Pháp lại đường đường trở về bằng
một hiệp định. Theo hiệp định: Quân đội Pháp sẽ đổ bộ và đóng ở bốn địa điểm
trong vòng năm năm. Bốn địa điểm là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Lạng Sơn.
Dân chúng phẫn nộ xé những bích
trương cũng không cản nổi được quân Pháp rầm rộ, lập tức kéo đến bốn địa điểm
đó. Nhưng uy tín của Việt Minh, ông Hồ Chí Minh không thể không bị suy giảm,
lung lay; nên lập tức ông Hồ Chí Minh cho triệu tập một cuộc mit-tinh trước Nhà
Hát Lớn Hà Nội, để trấn an dân chúng thơ ngây, bằng những lời lẽ cũng rất thơ
ngây: “Hỡi quốc dân đồng bào, tôi xin hỏi, bây giờ để cho quân Pháp lên đóng ở
bốn địa điểm đó, rồi hết năm năm, họ sẽ rút lui, ta không mất một viên đạn nào,
hay là ta đứng lên đánh đuổi họ, chinh chiến với họ nhiều năm với nhiều tàn phá.
Đàng nào hơn?”.
Một đám ngây ngô hoặc chân tay của họ,
dĩ nhiên là hoan hô giải pháp thứ nhất. Một số lớn khác bực tức nhưng lặng lẽ,
họ chưa quen hô ‘đả đảo’, ‘đả đảo’, vì chưa ai mớm cho họ - sự lặng lẽ đó bị phá
tan bởi mấy tiếng nổ lựu đạn, do những người phẫn uất cực độ ném ra. Tôi biết
một người ném hôm đó: Anh Tuyên, em cha Bằng, trước đây đã đi học mấy năm ở
Tiểu Chủng Viện Hoàng Nguyên, không biết có ai chết không.
Quân Pháp chỗm chệ ngồi trên bốn địa
điểm ở Bắc Kỳ, quân Tàu chuẩn bị rút đi; Ông Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ của Việt
Cách - Quốc Dân Đảng mất chỗ dựa, lục tục rút lui vào bóng tối, cả ba nghị sĩ
Quốc Dân Đảng dần dần không ai nghe nói đến.
Song nay, một cuộc đọ sức ngầm giữa
Cộng sản Việt Minh và Mặt trận Quốc gia ló diện. Thường chỉ bằng những cuộc đối
đầu tuyên truyền. Báo chí bên này nói thế này, bên kia lại khác. Bên nào cũng
nói hay nói phải cho mình. Thỉnh thoảng tờ Thanh Niên Công Giáo Cứu Quốc được
dán ở trước Nhà Thờ Lớn, bị xé liền; Báo tin tức của bác sỹ Phan Huy Đán, đứng
đầu Đại Việt, tờ ‘Thiết thực’ được hâm mộ đặc biệt, vì phơi bày những thủ đoạn
của Việt Minh Cộng sản, những dối trá của Việt Minh.
Ôn Nhu Hầu, có trụ sở của Quốc Dân
Đảng, sau này bị Việt Minh cho là ổ tội ác, vì họ bảo đó là nơi thanh toán những
chiến sĩ Cộng sản. Ôn Nhu Hầu được Việt Minh coi là điển hình tội lỗi của Quốc
Dân Đảng.
1. Chú thích DĐGD: Tác giả ám chỉ “Thiên đường cộng sản”