Không Biết Nói Vẫn Phải Nói
Nguyễn Tuấn Hoan
Thư của người tín hữu giáo dân tên Phê-rô Nguyễn Tuấn Hoan ở giáo xứ An Lạc, giáo phận Sàigòn đề ngày 14-10-2009 gửi tác giả bài “Cứ phải nói dù không biết nói”
Kính gửi cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh.
Thưa cha, con đã đọc bài cha viết:“Cứ
phải nói dù không biết nói” và trong phần kết cha có nói rằng “dù đã đọc đi đọc
lại nhiều lần bài giảng của đức cha Đọc, nhưng những thắc mắc của tôi vẫn chưa
được giải toả, còn người khác thì sao?” con nảy ra một vài suy nghĩ xin gửi đến
cha đọc cho vui. Những suy nghĩ này không phải từ bài của cha mà từ bài giảng
của đức cha Phao-lô Bùi Văn Đọc trong dịp Ad Limina của Hội Đồng Giám Mục VN vừa
qua tại Rô-ma. Bài giảng của đức cha Đọc đã lâu rồi, nhưng nay con mới có dịp
đọc, lại thêm bài của cha Nguyễn Hồng Giáo nữa.
Thời gian vừa qua, con bận rộn không
có giờ ngồi vi tính, nên những bài viết, những tin tức về Giáo Hội con biết rất
ít. Tuy nhiên con vẫn biết Giáo Hội VN đang gặp nhiều khó khăn, từ bên ngoài
cũng như trong chính nội bộ của mình. Ngoài việc hiệp thông trong lời cầu nguyện
cho Giáo Hội được bình an, cho các chủ chiên khôn ngoan và can đảm để dẫn dắt
đoàn chiên, con chẳng biết làm gì hơn và chẳng biết nói gì. Nhưng khi xem đi xem
lại bài giảng của đức cha Đọc, con chợt nghĩ, từ bài giảng này có nhiều lối nhìn
khác nhau, cụ thể là hai bài, một của cha Hồng Giáo, một của cha. Bài trước khai
triển bài giảng theo chiều hướng biện minh cho sự im lặng của các giám mục đồng
thời ngầm trách cứ những ai dồn các giám mục vào thế khó xử. Bài sau lại muốn
giúp cho độc giả thấy những cái bất thường và khó hiểu của các giám mục..... Con
không có khả năng để nhìn ra những ý nghĩa sâu sắc và tế nhị của bài giảng.
Nhưng có một vài điểm con không thể không nói ra dù biết mình kém cỏi. Con mượn
cha cái tên bài viết, chỉ đổi vế sau ra trước thôi. Con hy vọng những điều con
nói không có gì nguy hại (một câu con học được trong cuốn Kinh Thánh, Lời Chúa
cho mọi người, trang 4, phần Nihil Obstat. Có lẽ các đấng cẩn thận nhắc nhở độc
giả cứ yên tâm mà đọc cuốn KT này đi, không có gì nguy hại đâu! Con liên tưởng
đến chuyện như thể khi mua thuốc, phải xem toa có ghi chống chỉ định, không dùng
cho người cao huyết áp, có thai..., hoặc không có tác dụng phụ, không gây nghiện
v.v..). Nhìn lại những năm tháng qua với một vài sự kiện con có vài nhận định về
các giám mục hiện nay:
1. Óc khôi hài của các đấng.
Con có cảm tưởng các giám mục của
mình có óc khôi hài mọi lúc mọi nơi. Này nhé, cha còn nhỏ vào khoảng năm 2006,
Uỷ Ban Phụng Tự “tràn ngập niềm vui” khi ra được cuốn “Nghi Thức Thánh Lễ”, bèn
ra lệnh cho toàn thể thiên hạ phải sử dụng, dĩ nhiên ai không muốn mang tội lỗi
luật thì phải mua sách, chỉ trong thời gian ngắn sách bán hết sạch, niềm hân
hoan chứa chan khiến cho vị chủ tịch muốn mọi người chia sẻ niềm vui với ngài vì
sách bán hết nhanh quá! Chuyện này trở thành chuyện cổ tích, nhưng mỗi lần tham
dự thánh lễ, ít nhiều người ta cũng thắc mắc sao lâu quá không có “tập tiếp theo”!...xung
quanh vấn đề đó nảy sinh khối chuyện khôi hài...
Một đấng khác tuyên bố một câu rất hùng hồn: “Bất cứ việc gì (dĩ nhiên trong
Giáo Hội thôi) phải có giám mục thì mới thành công”. Thực tế như thế nào mọi
người đều biết.
Còn bài giảng của đức cha Đọc có một
câu: “......chúng tôi vẫn luôn tươi cười....”. Có lẽ đây là nét đặc trưng của
người An Nam mà ông Phạm Quỳnh đã nói : “Người An Nam ta cái gì cũng cười, vui
cũng cười, buồn cũng cười, được cũng cười mà mất cũng cười, người ta khen cũng
cười, người ta chê cũng cười”. Ông bà mình vẫn nói nụ cười là mười thang thuốc
bổ ấy mà. Nhưng cười cũng có nhiều kiểu cười, con tra tự điển của Lê Văn Đức và
Lê Ngọc Trụ trang 246... có liệt kê 95 kiểu cười, như cười gượng, cười hả hê,
cười hồn nhiên, cười ngoại giao, cười ra nước mắt, cười xã giao, cười xoà... đặc
biệt từ cười huề được giải thích là: “cười để bỏ qua, cho xuôi việc, vì xét ra
tranh chấp không có lợi”(tr.247, cột bên trái).Con nghĩ chắc đây là nụ cười của
các đấng chăng?
2. Óc tưởng tượng.
Con rất ngạc nhiên về câu nói: “Nếu
có ai không thích cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ”.
Con nghĩ rằng,Giám mục là thầy dạy đức tin, là chứng nhân của Đức Ki-tô trước
mặt mọi người, các ngài được chính Chúa trao mệnh lệnh và quyền dạy dỗ mọi dân
nước, thánh hoá mọi người trong chân lý (Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của các GM
số 2; 11). Vậy thì có ai lại đi yêu cầu các ngài khích bác người khác, nói theo
ngôn ngữ bình dân là xúi dại! Càng không nên đặt vấn đề thích hay không thích,
thử hỏi dựa vào đâu để bảo người này thích, người kia không thích, hay là chỉ
tưởng tượng, suy đoán mò (thường gọi là tiên tri). Đành rằng chính Chúa Giê-su
cũng dạy: “Đừng chống cự người ác, trái lại nếu có ai vả má bên phải, thì hãy
giơ cả má bên kia trái ra nữa” (Mt 5,39. 44-46), và Thánh Phao-lô cũng nói: “Mỗi
người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên
Chúa” (Rm 13,1tt). Nhưng điều đó đâu có nghĩa là dửng dưng trước những bất công,
im lặng trước những việc làm sai sự thật. Chính Chúa Giê-su khi bị một thuộc hạ
của thượng tế Kha-nan vả mặt, Chúa không cho anh ta vả tiếp mà nghiêm khắc chất
vấn: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải,
sao anh lại đánh tôi? (Ga 18,23).
Sách Giáo Lý Công Giáo số 1902 đã
trích dẫn một câu của Thánh Tô-ma A-qui-nô: “Luật pháp của loài người chỉ là
luật khi phù hợp với lẽ phải; có hiệu lực là nhờ “luật vĩnh cửu”; khi xa lìa lẽ
phải, nó không còn là luật nữa, nhưng là một sự bất công, thậm chí chỉ còn là
hình thức bạo lực.” Con nghĩ các Đấng Làm Thầy hẳn thông hiểu những điều này gấp
ngàn bọn thảo dân chúng con, nhưng trong thực tế con thấy Giáo Hội Việt Nam chỉ
sống đạo hình thức nhiều, đặt ra đủ thứ ban bệ, các đấng sống trên mây, chỉ biết
hài lòng với những rước xách, và đủ thứ phong trào, để lên báo lên đài thật
hoành tráng. Còn những nỗi khổ của bao người chỉ là chuyện nhỏ, không đáng quan
tâm, vì có lý do chính đáng: “sứ vụ chính yếu của chúng tôi là loan báo Tin Mừng”!
Con không biết khi viết lại dụ ngôn
Người Sa-ma-ri tốt lành (Lc10,30-37), Thánh Lu-ca có bỏ sót chi tiết nào không,
ông chỉ nói thầy tư tế và thầy Lê-vi nhìn thấy nạn nhân bị cướp lột sạch, đánh
nhừ tử, nửa sống nửa chết, nhưng cả hai thầy đều làm ngơ, lại tránh qua một bên
mà đi. Biết đâu còn một chi tiết là: cả hai thầy đều lẩm bẩm nói rằng, đây không
phải là việc của chúng tôi, chúng tôi còn nhiều việc quan trọng hơn nhiều, việc
chính yếu của chúng tôi là ở Giê-ru-sa-lem cơ! Và hai thầy thanh thản tiến bước
như không có chuyện gì xảy ra, vui vẻ trong sứ mạng của mình. Nhưng Thánh
Gia-cô-bê không chấp nhận thái độ như vậy, ngài viết: “Giả như có người anh em
hay chị em, không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong
anh em lại nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no’, nhưng lại
không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?”
(Gc2,15-16).
Sau cùng con chỉ muốn nói lên một suy
nghĩ là các đức giám mục cứ thinh lặng thì có lẽ tốt hơn là lên tiếng chỉ để
thanh minh thanh nga. Con chỉ muốn gửi đến cha vài suy nghĩ vui vui thế thôi.
Con không dám coi thường các giám mục, con luôn quý trọng các đấng, nhưng không
muốn vì thế mà khúm núm sợ hãi, không dám bày tỏ những suy nghĩ của mình. Con
nghĩ không phải cứ giám mục thì nói gì cũng hay, làm gì cũng đúng, như kiểu nói
của Thánh Phao-lô: “Tiên thường là thánh thì bột sú cũng thiêng”(Rm11,16 Bản
dịch của cha Thuấn,dcct). Các ngài cũng là những bình sành được Thiên Chúa dùng
để chứa đựng kho tàng vô giá (x. 2Cr4,7).
Con kính chúc cha sức khoẻ dồi dào, để cha luôn là tiếng nói của những người
muốn nói mà không nói được, hoặc nói được mà không chịu nói, không dám nói, mà
cũng có thể không được nói.
Chào cha.
An Lạc, ngày 14-10-2009.
Phê-rô Nguyễn Tuấn Hoan