Viết Từ Canada
Một Nhà Nước Côn Đồ
Mặc Giao       

        Ngày 9 tháng 10-2009, tòa án phường tuồng của cộng sản VN đã xử 6 người (1) về tội phá hoại an ninh quốc gia chiếu điều 88 luật hình sự. Trước đó ít ngày, họ cũng đã xử 3 người khác (2) về cùng thứ tội. Người nhẹ nhất lãnh án tù 2 năm (Ô. Nguyễn Kim Nhàn). Người nặng nhất bị phạt tù 6 năm (nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã). Ngoài ra, mỗi người đều được “tặng” thêm vài năm quản chế, nói cách khác là tù tại gia. Thật ra “tội” của họ là lên tiếng một cách hòa bình bằng miệng hay bằng chữ viết để đòi tự do, dân chủ, nhân quyền, chống Trung quốc chiếm đất chiếm biển của Việt Nam, phản đối việc cướp nhà cướp đất. Trên bình diện pháp lý, họ không có một hành động bạo loạn nào có thể gây nguy hại cho an ninh quốc gia, nên không có yếu tố cấu thành tội trạng theo hiến pháp và luật pháp của chính chế độ cộng sản. Về phương diện thực tế, những phản đối này, dù ôn hòa, cũng đã lột trần mặt thật hiếp dân, bán nước của những người cầm quyền. Vì thế nhà cầm quyền đã phản ứng một cách điên cuồng bằng những biện pháp tàn bạo và gian trá, bẻ cong luật lệ, bất chấp lẽ phải. Những vụ xử án này cũng chỉ là một chuỗi nối dài của các vụ Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Bát Nhã v.v… Nhà nước cộng sản VN tiếp tục hành động theo luật rừng giữa một thế giới văn minh, tiến bộ đã bước vào thế kỷ thứ 21, bất chấp sự phản đối của nhiều quốc gia và các tổ chức nhân quyền trên toàn thế giới. Họ thách thức mọi người hay đang đi vào con đường tự diệt?

BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

        Bản chất của mọi chế độ cộng sản là độc tài, cực quyền như mọi người đã biết. Nhưng một câu hỏi được đặt ra là tại sao cộng sản Liên Xô, Đông Âu ngày trước và cả cộng sản Cuba bây giờ có vẻ cởi mở hơn và biết điều hơn các chế độ cộng sản tại châu Á? Thiếu gì viên chức cộng sản VN và những người làm công việc thông dịch đã từng chứng kiến cảnh các viên chức và chuyên viên của các nước cộng sản anh em công khai cười chê sự độc đoán ngu muội của cộng sản VN. Ngay Fidel Castro của Cuba còn mời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến thăm và dõng dạc đọc diễn văn kêu gọi tôn trọng tự do tôn giáo và nhân quyền ngay giữa thủ đô Havana. Vì lý do gì các nước cộng sản Liên Xô và Đông Âu đã theo nhau xụp đổ trong khi Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn vẫn tồn tại và những người lãnh đạo các quốc gia này càng ngày càng tỏ ra mất lý trí của những con người bình thường? Người ta lý giải rằng Tây phương đã được nghe, được đọc, được học về tự do, dân chủ, về nguyên tắc chủ quyền tối thượng thuộc về toàn dân với những tư tưởng do Montesquieu và Jean-Jacques Rousseau đề xuất từ thế kỷ 18. Những chế độ độc tài của Hitler, Mussolini, Franco, Staline và cả những chế độ độc tài cộng sản cũng chỉ là những dấu ngoặc của lịch sừ châu Âu. Sở dĩ có tình trạng này là vì người dân đã có ý thức về quyền lợi của họ, đã hiểu và qúy trọng tự do dân chủ, nên đã không ngừng đấu tranh, dù phải hy sinh tính mạng và tài sản, để dẹp bỏ những chế độ độc tài. Mặt khác, giai cấp trí thức, cũng là giai cấp lãnh đạo, đã thấm nhuần ý niệm dân chủ một cách sâu đậm. Đối với họ, dân chủ là bình thường, không dân chủ mới là bất bình thường, và dù có độc tài cũng phải là thứ độc tài có thể tạm chịu đựng được trong khi chờ thay đổi.
        Trong khi đó, các nước “đồng văn” với Trung Quốc ở Á Đông: Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản thì chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử với những nguyên tắc tôn quân, tôn quyền, trung quân, ái quốc, trung thành tuyệt đối với vua (hay với lãnh tụ thời nay). Vua cho sống, được sống. Vua bảo chết, phải chết (quân xử thần tử, thần tử). Vì vậy ngày nay cộng sản Trung Hoa và Việt Nam mới phục hồi Khổng học sau khi đã dẹp bỏ vì cho là tàn dư của phong kiến. Họ phục hồi để dựa vào đó mà cãi rằng nhân quyền của Tây phương không giống với nhân quyền của Đông phương. Có điều những chế độ độc tài chỉ biết khai thác những điểm tiêu cực của Khổng học để thủ lợi, không quan tâm tới những điểm tích cực trong việc trị dân mà Khổng Tử và các môn đồ trực tiếp của ngài đã dậy. Đó là lấy đức trị dân, coi dân như con đẻ, thiết lập và bảo vệ một xã hội có kỷ cương, lấy nhân, nghiã, lễ, trí, tín làm phương châm đối xử giữa người với người. Những quốc gia như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba biết ứng dụng những điều tích cực này, cộng thêm những nguyên tắc dân chủ của Tây phương, đã làm cho quốc gia họ được cường thịnh và người dân được sống hạnh phúc. Nhân quyền có tính phổ quát vì con người là phổ quát, không phân biệt Đông Tây
        Lại có câu hỏi được nêu: tại sao Miến Điện (Myanmar), được gọi là xứ Phật, không chịu ảnh hưởng Khổng giáo, không phải là cộng sản mà giới lãnh đạo cũng tàn ác không kém gì cộng sản? Câu trả lời có thể là vì xã hội châu Á nói chung là một xã hội nông nghiệp chậm tiến, dân chúng hiền lành, ít học nên không ý thức được quyền lợi của mình, chỉ chờ được ban ơn và sẵn sàng khuất phục trước uy quyền. Trí thức là thiểu số thì lại không có cái “uy vũ bất năng khuất”, chỉ biết phục tùng quyền hành để được ăn trên ngồi trốc đám dân đen. Vì thế những hôn quân bạo chúa tân thời như Mao Trạch Đông mới có thể coi dân như con sâu cái kiến, muốn dẫn đi đâu, phải đi, muốn bắt hoan hô hay đả đảo ai, phải làm theo. Hết bước tiến nhẩy vọt tới cải cách ruộng đất. Hết trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng lại đến cách mạng văn hóa. Hơn một tỷ dân Trung Hoa không phải là một dân tộc ngu, nhưng đã chấp nhận phận hèn trước những kềm kẹp, đe dọa và đối xử tàn ác của những bạo chúa cộng sản. Họ đã quen khuất phục trứơc bạo lực suốt giòng lịch sử của họ.

ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN VIỆT NAM
        Tập đoàn cai trị cộng sản VN có đầy đủ bản chất của những người cộng sản châu Á, họ còn thêm bản chất côn đồ mà ngay những “đồng chí” cộng sản xứ khác cũng phải chào thua:
        1/ Bẻ cong luật pháp do chính họ viết ra bằng cách dùng điều 88 của luật hình sự để truy tố bất cứ ai phản đối họ hoặc đòi tự do, công lý, nhân quyền, và ngay cả bảo vệ đất nước, gán cho những người này tội phá hoại an ninh quốc gia. Rõ ràng họ đã thay đổi tội trạng, vì những hành động trên không thể kết thành tội hình sự. Việc bắt bớ và kết án có nguyên nhân chính trị. Vậy mà họ dám tuyên bố láo khoét với quốc tế là Việt Nam không có tù chính trị.
        2/ Dối trá trắng trợn khi đổ trách nhiệm cho “nhân dân tự phát”, thực tế là công an mặc thường phục và du côn được thuê mướn, kéo đến đánh đập những người phản kháng và những tín đồ cầu nguyện một cách bất bạo động. Sự dối trá đã đến mức cao độ khi họ bắt bớ và truy tố các tín đồ với tội danh làm rối loạn trật tự công cộng và phá hoại tài sản của nhà nước trong khi các tín đồ chỉ cầu nguyện và bảo vệ đất đai thuộc tôn giáo của mình. Họ xuyên tạc lời tuyên bố của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, lăng mạ, vu khống ngài trên truyền hình, cho côn đồ dọa giết. Họ đánh phá và đuổi hàng trăm tu sĩ Phật Giáo khỏi chùa Bát Nhã ở Lâm Đồng nhưng trắng trợn tuyên bố đó là việc tranh chấp nội bộ của các phe Phật Giáo, chính phủ vô can. Họ đánh tráo mục tiêu đòi đất tòa khâm sứ của Công Giáo bằng cách xúi Phật Giáo quốc doanh vu cáo Công Giáo phá tháp và chùa Báo Thiên để xây nhà thờ. Những gì họ nói ra đều là dối trá.
        3/ Gây chia rẽ các thành phần dân tộc bằng cách dùng Phật Giáo chống lại Phật Giáo, dùng Phật tử chống lại giáo dân Công Giáo. Ngoài việc xử dụng côn đồ, họ còn rỉ tai đồng bào thuộc tôn giáo khác là Công Giáo đang mưu toan chiếm đất, chẳng những đất nhà thờ mà còn chiếm đất của tư nhân, nên phải đập tan sự chiếm dụng này ngay từ đầu. Họ áp dụng chiến thuật “vừa đánh trống vừa ăn cướp”, và việc “đánh trống” của họ đã khích động một số người nhẹ dạ đi tấn công người Công Giáo. Việc gây chia rẽ các thành phần dân tộc sẽ gây hậu qủa nguy hại lâu dài cho việc xây dựng đất nước, kể cả sau khi chế độ cộng sản xụp đổ.
        4/ Hành động bỉ ổi và hèn hạ đối với những công dân không có tấc sắt trên tay. Nhiều người đấu tranh cho tự do dân chủ đã bị hành hung, phá xe, cướp máy kiểu ném đá dấu tay. Nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thủy đã nhiều lần bị ném chuột chết và phân người vào nhà. Công an gài bẫy vợ chồng chị để bắt nhốt và đưa ra tòa về tội hành hung người khác (không dám truy tố về tội viết bài chống nhà nước). Khi vợ chồng chị Thủy bị đánh thì không ai chụp hình. Nhưng khi vợ chồng chị tự vệ thì kẻ tấn công “cào đồ ăn vạ” được bố trí chụp hình đưa lên báo, cấp giấy chứng thương, làm lớn chuyện để có cớ truy tố vợ chồng chị. Luật sư Lê Trần Luật chỉ vì nhận cãi không công cho các nạn nhân Thái Hà cũng như cho các nhà dân chủ khác mà bị đóng cửa văn phòng luật, bị rút giấy phép hành nghề và bị đe dọa truy tố về tội… thiếu thuế.
        Trên đây chỉ là một số việc tiêu biểu trong số hàng ngàn vụ xảy ra khắp nơi. Nhà nước cộng sản VN không từ chối bất cứ một mưu mô đen tối, một hành động đê tiện nào mà không làm. Tất cả những hành động này chứng tỏ nhà nước cộng sản VN là một nhà nước côn đồ, không xứng đáng với tư cách của một chính quyền cai trị dân. Trong lịch sử Việt Nam, chưa từng có một chính quyền nào cư xử với dân tồi tệ như thế. Có thể nói, trên toàn thế giới hiện nay không có một chính phủ nào, kể cả tại những quốc gia nghèo khó và lạc hậu nhất, cai trị dân bằng những biện pháp gian dối và hèn hạ như cộng sản VN đang làm.

TẠI SAO CỘNG SẢN VN ĐỐI XỬ VỚI DÂN VIỆT TÀN TỆ NHƯ THẾ?
        Tình cảnh của người dân Việt Nam hiện nay còn khốn khổ hơn thời thực dân Pháp cai trị. Nhà văn Đoàn Thêm, trong cuốn “Nhà Quê Ra Tỉnh” đã nhận xét về đời sống của người dân thời Pháp thuộc như sau:
        “Họ vẫn được tùy ý sống theo nếp sống quen thuộc, muốn ở đâu thì ở, đi đâu thì đi trong toàn xứ, làm nổi nghề gì kiếm ăn thì làm, nếu có của cải thì tha hồ mua nhà tậu ruộng, lập nghiệp mà truyền cho con cháu, ăn chơi an nhàn, lễ bái tế tự theo tin tưởng của họ.
        “Nếu họ chưa có những quyền chính trị mà thật ra chẳng mấy ai nghĩ tới, họ không bị nhà cầm quyền ngăn cản phiền nhiễu trong đời sống riêng tư. Họ vẫn có từ xưa: tự do cư trú, tự do sinh nhai và sở hữu, tự do theo các truyền thống, tập tục và tín ngưỡng… tức là những nhân quyền căn bản hoặc tối thiểu…
        “Pháp đã khôn khéo để mặc họ sống như vậy. Bởi thế, trong sinh hoạt hàng ngày, họ không cảm thấy bị đè nén gò ép, nên chịu đựng nổi chế độ ngoại thuộc”. (Đoàn Thêm, Nhà Quê Ra Tỉnh, tr. 472. Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai và Tổ hợp Xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1996).
        Tác giả Đoàn Thêm nghĩ rằng người ta không liều mạng vượt biển vì miếng ăn, mà vì muốn dời xa sự ngột ngạt.
        Dĩ niên không ai muốn làm thân mất nước dưới chế độ thực dân, nhưng xét cho kỹ, người ta thấy thực dân đối xử với dân Việt bị trị còn nhân đạo hơn cộng sản Việt cư xử với đồng bào cùng giòng máu. Thời thực dân có bắt bớ những người đấu tranh dành độc lập, có phân biệt đối xử, có tham nhũng và bất công, nhưng không có chế độ hộ khẩu, không có công an khu vực để kiểm soát từng người dân, không tập trung báo chí và các phương tiện truyền thông trong tay nhà nước, không bịt miệng và bỏ tù những người đòi hỏi công lý và nhân quyền (cựu đảng viên CS Nguyễn Văn Trấn đã viết trong cuốn “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội” rằng dưới thời Pháp thuộc, các ông có thể tổ chức diễn thuyết và ra báo mà không cần xin phép. Dĩ nhiên phải chịu chế độ kiểm duyệt), không tịch thâu đất đai của các giáo hội và kiểm soát các giáo hội một cách chặt chẽ, không có việc ăn cướp ngang xương nhà cửa và ruộng đất của người dân, không có thủ tục “đầu tiên” ở mọi cấp từ thấp nhất đến cao nhất, không có dâng đất dâng biển cho Đại Hán mà chỉ có điều đình rốt ráo ở Trùng Khánh để bảo vệ lãnh thổ Đông Dương, không có ngụy tạo bằng cớ để đổi trắng thay đen, không liệng chuột chết và phân tươi vào nhà những ai chống Pháp.
        Tại sao người Việt đối xử với người Việt tệ hại như thế? Chúng ta chỉ có thể giải thích bằng hai lý do:
        - Thứ nhất, những người cai trị được đào tạo trong lò cộng sản. Dù bây giờ cộng sản chỉ còn là một chiêu bài, nhưng chất cộng sản vẫn còn lưu lại trong con người họ. Cộng sản thì không có tổ quốc, không có tình đồng bào, không có hòa thuận dân tộc (vì chủ trương đấu tranh giai cấp). Đối với họ, đảng là trên hết, đảng còn cao hơn đất nước và dân tộc. Ở khiá cạnh thực tế, đảng là tất cả đối với họ. Đảng là sự sống, là nơi nương tựa, bao che, là tiền bạc, quyền hành. Vì vậy cái gì cũng phải đặt dưới chân đảng. Về phương thức hành động, họ lấy “cứu cánh biện minh cho phương tiện” nên không từ nan bất cứ một hành động nào, dù tàn ác, bất nhân, miễn hành động đó có lợi cho mục đích.
        - Thứ hai, những người cai trị Việt Nam hôm nay thuộc một tập đoàn kẻ cướp. Họ đã cướp chính quyền không qua bất cứ một hình thức hỏi ý nhân dân nào. Những cuộc bầu cử chỉ là trò hề “đảng cử dân bầu”. Sau khi cướp chính quyền, họ cướp luôn mọi thứ quyền căn bản của người dân, cướp ruộng vườn, tài sản qua chính sách cải cách ruộng đất, cướp bất động sản của các giáo hội, cướp tiền bạc của cải của nhân dân qua những đợt đánh tư sản mại bản và đổi tiền, cướp đất cướp nhà của dân lành ngay trong thời bình. Tệ hại nhất là tước đoạt phẩm giá của con người, hủy hoại những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Những hành động đối xử tàn ác và bóc lột dân lành, bao che cho tham nhũng và tội ác, vơ vét của công làm của riêng, ăn gian nói dối để che đậy tội ác, trả thù tàn nhẫn đối thủ, bỏ mặc cho các tệ đoan xã hội hoành hành là những hành động của kẻ cướp. Kẻ cướp có tổ chức thì trở thành một đảng “mafia”, tức băng đảng tội ác.
        Đó là những lý do khiến đảng cộng sản VN đối xử với người Việt một cách tàn tệ. Thêm vào đó, họ đã nhìn thấy tuyệt đại đa số dân Việt và nhiều chính phủ ngoại quốc đã chán ghét họ, nên họ phải vùng vẫy và cắn càn để tự vệ và tìm đường thoát thân an toàn. Họ phải dùng đủ thứ mưu chước để trụ thêm được ngày nào hay ngày nấy, vơ vét thêm càng nhiều càng tốt trước khi cuốn gói ra đi. Đó là hiện tượng cuối trào thường xảy ra trong lịch sử.
Muốn giải trừ những nguyên nhân gây khổ đau cho dân tộc từ trên 60 năm nay chỉ có cách duy nhất là dẹp bỏ chế độ cộng sản để mọi người dân, bất kể khuynh hướng và qúa khứ chính trị, đều có thể tham gia công việc tái tạo đất nước từ những đổ vỡ vật chất và tinh thần do chế độ tệ hại đó gây nên. Chúng ta không thể chờ đợi lâu hơn được nữa vì đất nước và đồng bào đã lầm than qúa lâu rồi, vì nhân loại đã tiến qúa xa rồi. Nếu cứ cúi đầu chấp nhận sự lãnh đạo của những “đỉnh cao trí tuệ” tự nhận như hiện nay, đất nước càng ngày càng tụt hậu, nhân dân càng ngày càng bị bức bách, đa số dân nghèo càng ngày càng lầm than hơn, các nhà tu hành càng ngày càng bị đánh đập, bắt bớ, bỏ tù nhiều hơn, lãnh thổ và lãnh hải càng ngày càng co lại nhỏ hơn. Các sĩ phu đang ở đâu? Các trí thức đang ở đâu? Thanh niên, sinh viên có ý thức được nỗi đau nhục của dân tộc và có nghĩ tới tương lai của chính các bạn không? Quân đội, thành trì của tổ quốc đang làm gì? Bảo vệ giang sơn và đồng bào hay cúc cung phục vụ cho lớp người tham lam, tàn ác? Hãy tỉnh dậy đi! Hãy đứng lên đi! Đất nước không phải là tài sản riêng của đảng cộng sản. Đất nước là di sản của cha ông để lại cho mọi người dân Việt. Đừng để đất nước chịu khổ nhục mãi trong tay một bọn côn đồ.
        (1)Nguyễn Xuân Nghiã, nhà văn, 6 năm tù, 3 năm quản chế
        Nguyễn Văn Túc, tố tham nhũng, 4 năm tù, 3 năm quản chế
        Nguyễn Văn Tính, đòi dân chủ, 3 năm rưỡi tù, 3 năm quản chế
        Nguyễn Mạnh Sơn, đòi dân chủ, 3 năm rưỡi tù, 3 năm quản chế
        Ngô Quỳnh, sinh viên chống đuốc thế vận, 3 năm tù, 3 năm quản chế
        Nguyễn Kim Nhàn, dân oan, 2 năm tù, 2 năm quản chế
        (2)Phạm Văn Trội, đòi nhân quyền, 4 năm tù, 3 năm quản chế
        Vũ Hùng, nhà giáo, 3 năm tù, 3 năm quản chế
        Trần Đức Thạch, nhà thơ, 3 năm tù, 3 năm quản chế

THÊM MỘT CỔ THỤ VỪA NẰM XUỐNG
        Linh Mục Phêrô Baotixita Đỗ Long Bộ, nguyên Tổng Tuyên Úy Phong Trào Thanh Sinh Công Việt Nam đã rời trần gian ngày 2-10-2009 tại tu viện Phanxicô Vĩnh Phước, Nha Trang, thọ 88 tuổi. Sau khi du học bên Pháp về, Cha được cử đến tu viện Phanxicô Đakao, số 3 Phạm Đăng Hưng (nay là đường Mai Thị Lựu, Quận 1, Sài Gòn). Mấy năm sau, Cha quy tụ các học sinh thành lập Đoàn Học Sinh Công Giáo rồi từ từ mở rộng thành Phong Trào Thanh Sinh Công có hoạt động trên toàn quốc. Công việc này đã gắn bó với Cha suốt cuộc đời và sự nghiệp của Cha cũng chính là Phong Trào Thanh Sinh Công Việt Nam.
        Thanh Sinh Công là những chữ viết tắt của Thanh niên Sinh viên Học sinh Công Giáo (Jeunesse Etudiante Catholique, viết tắt là JEC), một thành phần của Công Giáo Tiến Hành Chuyên biệt (Action Catholique Spécialisée). Sở dĩ tôi phải chú thích tiếng Tây là vì tổ chức này phát xuất từ Âu châu, đặc biệt tại Pháp và Bỉ, vào những năm sau thế chiến thứ hai. Ngoài Thanh Sinh Công còn có Thanh Nông Công (Jeunes Agriculteurs Catholiques, JAC) và Thanh Lao Công (Jeunesse Ouvrière Catholique, JOC). Đặc biệt người ta biết tới Thanh Lao Công ở Sài Gòn trước 1975 qua hành động đi hốt rác của Linh Mục Phan Khắc Từ.
        Tôi nhớ về Linh Mục Đỗ Long Bộ như một người cha hiền lành, vui tươi, dí dỏm, rất nhiều tình nghiã từ khi tôi được một người bạn dẫn đến sinh hoạt trong Đoàn Học Sinh Công Giáo của Cha ngay trong thời gian đầu thành lập. Có mặt trước tôi không lâu với tư cách các anh lớn dẫn giắt đàn em là các anh sinh viên Luật Vũ Minh Trân (sau là nghị sĩ), Nguyễn Tiến Hưng (tác giả Khi Đồng Minh tháo chạy) và anh Dương Minh Kính (dân biểu cùng khóa với tôi), sinh viên Sư Phạm. Lúc đó, khoảng năm 1956, 1957, tôi đang học lớp Đệ Tam hay Đệ Nhị trường Chu Văn An Sài Gòn. Tôi rất thích sinh hoạt với Đoàn Học Sinh Công Giáo vì mỗi Chúa Nhật được đi lễ và hát lễ với anh chị em tại nhà thờ Phanxicô Đakao, sau đó sang phòng họp sinh hoạt, vừa nghe Cha dậy dỗ, vừa thảo luận tự do, vừa ca hát tưng bừng, lại còn được ăn bánh kẹo và uống nước ngọt do Cha cung cấp. Thỉnh thoảng Cha mời những cha khác và những thức giả Công Giáo đến nói cho chúng tôi nghe một đề tài đạo hoặc đời. Ngay lúc đó, tôi đã thấy cách sinh hoạt này rất ích lợi cho tuổi trẻ, tuổi cần học hỏi để củng cố đức tin và trau dồi kiến thức. Có khi Cha tổ chức những cuộc cắm trại xa tại Dòng Đồng Công Thủ Đức hay công viên quốc gia Trảng Bom. Tôi nhớ trong những dịp này Cha đi như chạy từ chỗ nọ đến chỗ kia, lất phất chiếc áo dòng mầu nâu có dây thắt lưng lòi tói đong đưa, tóc trên đầu cắt vòng tròn kiểu Thánh Antoine, trên môi luôn nở nụ cười. Thuở ấy các linh mục và tu sĩ đi đâu cũng phải mặc áo dòng đầy đủ, không có chuyện đánh sơ mi, quần tây đi bát phố.
        Khi Đoàn Học Sinh Công Giáo lớn mạnh với đông đảo học sinh tham gia, Cha đổi danh thành Đoàn Thanh Sinh Công và áp dụng cách sinh hoạt của tổ chức này dựa căn bản theo phương pháp NHÌN, SUY NGHĨ, HÀNH ĐỘNG (Voir, Réfléchir, Agir). Chúng tôi được học hỏi Chartre de Dakar tức văn bản của Đại Hội Quốc tế Thanh Sinh Công họp ở Dakar, được coi như cẩm nang hoạt động của Thanh Sinh Công. Có một đoàn Thanh Sinh Công khác cũng hoạt động song song với chúng tôi bên trường Taberd của các sư huynh La-san. Chúng tôi có liên lạc thân hữu nhưng không kết hợp. Đoàn của chúng tôi có linh mục tuyên úy đứng đầu nên mạnh hơn và dễ phát triển hơn. Đầu tiên đoàn mở rộng sinh hoạt sang trường Nguyễn Bá Tòng. Anh Đinh Văn Cẩm và chị Thu Hà được cử đi công tác bên ấy để hướng dẫn sinh hoạt cho chi nhánh mới sau mỗi thánh lễ Chúa Nhật. Dần dần các linh mục tại nhiều địa phương khác thấy phương pháp hoạt động của Thanh Sinh Công hay và hữu hiệu nên đã xin tài liệu về áp dụng và nhờ chúng tôi cử “cán bộ” đến tổ chức. Tôi đã từng đi với anh Vũ Minh Trân ra Phan Thiết để thăm viếng và sinh hoạt với đoàn Thanh Sinh Công non trẻ ở đó. Nơi đây tôi gặp lại anh Nguyễn Phúc Liên, bạn học lớp 12 (Đệ Nhất C) với tôi, đang là thầy giúp xứ do chủng viện cử đi.
        Khi có nhiều đoàn Thanh Sinh Công được tổ chức tại nhiều địa phương, Phong Trào Thanh Sinh Công Việt Nam được thành hình. Linh Mục Giám Đốc Công Giáo Tiến Hành VN chính thức cử Cha Đỗ Long Bộ làm Tổng Tuyên Úy Phong Trào với sự đồng ý của Dòng Phanxicô. Trụ sở của Phong trào đầu tiên được đặt tại tu viện Dakao, sau theo chân Cha Tổng Tuyên Úy di chuyển đến 28 Phan Văn Trường, sát bên chợ Cầu Ông Lãnh. Cuối cùng, trụ sở chính thức được đặt ở đường Phát Diệm. Phong Trào Thanh Sinh Công đang lớn mạnh trên toàn quốc thì biến cố 30-4-1975 xảy ra. Tổ chức nào cũng gặp cảnh xảy đàn tan nghé. Đoàn viên Thanh Sinh Công lớp vượt biên, lớp ở lại, lớp đi tù cải tạo. Cha Đỗ Long Bộ rút về tu viện Phanxicô Nha Trang. Sau đó Cha được giao trách nhiệm trông coi tu viện Phanxicô Vĩnh Phước và giáo xứ Vĩnh Phước, Nha Trang, cho tới ngày qua đời. Khi tình thế dễ thở hơn đôi chút, Cha liên lạc lại với các cựu Thanh Sinh Công ở trong và ngoài nước để làm sống lại tinh thần Thanh Sinh Công. Chính tôi cũng nhận được một thư của Cha viết cho tôi khi Cha còn khỏe mạnh. Ở trong nước, Thanh Sinh Công đã sinh hoạt lại tại nhiều nơi, dù không công khai và hùng dũng như xưa. Ở ngoại quốc, một số anh chị en cựu Thanh Sinh Công cũng tổ chức phong trào cho sinh viên Việt, mạnh nhất là ở New Orleans, Hoa Kỳ, nơi chị Xuân Dung sinh sống và là “leader” cho Thanh Sinh Công hải ngoại. Các anh chị em khác thì giữ liên lạc với nhau và liên lạc trong ngoài, gây qũy học bổng cho con em Thanh Sinh Công trong nước, lập qũy Cha Đỗ Long Bộ để cứu trợ anh chị em nạn nhân bão số 9 ở miền Trung vừa qua. Tinh thần Thanh Sinh Công vẫn còn sống là điều đáng mừng.
        Khi tôi học năm thứ hai Văn Khoa, tôi rời Thanh Sinh Công đi sinh hoạt với Liên Đoàn Sinh Viên Công Giáo Đại Học Sài Gòn, nhưng tôi vẫn trở về thăm anh chị em trong những dịp kỷ niệm hay lễ lạc. Tôi vẫn viết bài cho báo Sứ Mệnh của Thanh Sinh Công giống như khi tôi còn làm Trưởng Ban Văn Hóa. Có đôi lần tôi còn lãnh việc thuyết trình và hướng dẫn thảo luận cho các đoàn viên trẻ lớp sau. Tôi gắn bó với Thanh Sinh Công vì ở đây tôi tìm được một người cha tinh thần và nhiều bạn tốt. Khi được tin Cha Đỗ Long Bộ, sau này anh em gọi là Bố Già, về với Chúa, tôi đã suy nghĩ về Cha rất nhiều. Nhớ thương cũng có, nhưng nhiều nhất là cảm phục đức tính kiên trì trong công việc và tình nghiã mặn nồng của Cha đối với những người Cha quen biết hay dậy dỗ. Cha đã hướng dẫn nhiều thế hệ thanh niên Công Giáo giữ vững đức tin giữa những cơn thử thách, giúp họ vào đời với hành trang đạo đức được sửa soạn ngay từ trên ghế nhà trường. Cha là một cổ thụ để quy tụ, để nhiều người nhìn vào và tìm về. Cổ thụ đã nằm xuống, nhưng hình ảnh vẫn còn mãi, gương sáng vẫn chiếu tỏa.
        Cám ơn Cha. Cha an nghỉ trong Chúa và cầu nguyện cho chúng con.